TỪ KHÁT VỌNG BẾN CẢNG NHÀ RỒNG ĐẾN THỜI KHẮC LỊCH SỬ MÙA XUÂN NĂM 1941

     85 năm đã qua, kể từ mùa xuân năm 1941, Nguyễn Ái Quốc trở về sau 30 năm xa Tổ quốc thân yêu. Ra đi từ Bến cảng Nhà Rồng mang trong mình một khát vọng cháy bỏng và một ý chí quyết tâm, phải tìm ra con đường giải phóng dân tộc, mang lại độc lập, tự do và hạnh phúc cho nhân đân. Kể từ mùa xuân năm ấy, dân tộc Việt Nam đã bước sang một trang sử mới:

 “Bao năm trông Bác, Bác về đây

  Đất nước non sông, nở mặt mày

 Cách mạng từ đây bừng rực đỏ

     Bắc Nam đỏ cả một ngày mai”. (1)

       Nhớ lại những ngày đầu mùa hè năm 1911, trên Bến cảng Nhà Rồng, trong không khí tấp nập của một cảng biển lớn với những con tàu vào ra nhộn nhịp, tiếng máy, tiếng còi tàu, tiếng va đập của những âm thanh công xưởng, Nguyễn Tất Thành, một người trẻ tuổi yêu nước đang đưa ánh mắt nhìn về phía chân trời xa, mang theo bao nỗi đau của một người dân mất nước. Từ những năm tháng sống ở Huế đã làm cho anh thấy rõ hơn sự thấp hèn của giới quan chức phong kiến, tay sai. Từ cuộc sống quan trường lận đận, trắc trở của người cha, anh càng thấu hiểu ý nghĩa thực tế câu: “Quan trường thị nô lệ, trung chi nô lệ, hựu nô lệ”. Chứng kiến sự bóc lột tàn bạo thực dân Pháp đối với nhân dân ta, sự thất bại của các phong trào yêu nước “bị dìm trong máu”(2). Thực tế này càng thôi thúc anh quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước. “Người thiếu niên ấy đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc bấy giờ, Anh đã có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào”(3). Tuy nhiên, đi đâu và làm gì để tìm ra con đường cứu nước là một thách thức lớn đối với chàng thanh niên trẻ tuổi Nguyễn Tất Thành. Bởi lẽ, bọn thực dân bưng bít mọi thông tin, ngăn cản những tư tưởng tiên tiến, cấm du nhập sách báo tiến bộ hòng giam hãm dân ta trong vòng nô lệ. Người đã nói với nhà báo Liên Xô Ôxip Manđenxtam: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế… Nhưng trong những trường học cho người bản xứ, bọn Pháp dạy người như dạy con vẹt. Chúng giấu không cho người nước tôi xem sách báo” (4). Một loạt câu hỏi lớn được đặt ra ? Làm thế nào để đánh đổ bọn thực dân Pháp, bọn phong kiến tay sai ? Làm cách nào để giải phóng được dân tộc khỏi mọi áp bức, bóc lột để mang lại độc lập, tự do ? Một khát vọng lớn đã được hình thành trong con người thanh niên yêu nước ấy.

        Chính những nhận thức về bối cảnh đất nước, sự tìm hiểu về nước Pháp cộng với tầm nhìn thời đại, ngày 5 – 6 – 1911, từ bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành với hai bàn tay trắng và một trái tim ngập tràn tình yêu quê hương, yêu đồng bào với một khát khao cháy bỏng “độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân” đã bước lên con tàu Amiran Latusơ Tơrêvin sang phương Tây. Và cũng từ nơi đây, một ngọn lửa cách mạng đã được nhen nhóm, soi đường cho cả dân tộc bước ra ánh sáng. Đây không phải là hành động ngẫu nhiên, tự phát mà là sự lựa chọn sáng suốt, một quyết tâm lớn đáp ứng đòi hỏi khách quan của cách mạng Việt Nam. Quyết định sang phương Tây là bước ra cách cửa thế giới để đón nhận những nhân tố mới của thời đại, tiếp thu lý luận tiên tiến, tích hợp tinh hoa văn hoá nhân loại để hình thành con đường cứu nước. Với nhiệt huyết cứu nước, trí tuệ thiên tài, nhãn quan chính trị sắc bén và được kế thừa các giá trị yêu nước truyền thống của dân tộc Việt Nam, sau gần 10 năm khi rời bến cảng Nhà Rồng “Người đi hỏi khắp bóng cờ châu Mỹ, châu Phi; “Những đất tự do, những trời nô lệ” để tìm con đường cách mạng chân chính, thì đến năm 1920, Người đọc, nghiên cứu bản Luận cương của Lênin. Luận cương đã chỉ ra con đường đúng đắn nhất mà Tổ quốc đang cần: giành độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân. Khẳng định ý nghĩa to lớn của Luận cương trong hành trình tìm ra con đường cứu nước, Người viết:“Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Từ đó, Người quyết định đi theo con đường của Lênin và cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại. Người kết luận: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(5).

        Sau khi tìm thấy chân lý cứu nước, mong muốn và trăn trở lớn nhất của Nguyễn Ái Quốc là tìm đường về nước để truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, chuẩn bị những điều kiện cho việc đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp năm 1923, Nguyễn Ái Quốc viết: “Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”(6). Năm 1924, Người về đến Quảng Châu, Trung Quốc, gần hơn với Tổ quốc thân yêu. Tại đây, Người đã chuẩn bị những tiền đề về chính trị, tư tưởng và tổ chức để xúc tiến cho sự ra đời của một chính Đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam. Mở lớp huấn luyện chính trị, thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên năm 1925, sáng lập báo Thanh niên tháng 6 – 1925, tuyên truyền về chủ nghĩa cộng sản, về Đảng Cộng sản, về cách mạng tháng Mười Nga, xuất bản tác phẩm Đường Kách mệnh năm 1927… Nguyễn Ái Quốc đã đem đến cho những thanh niên Việt Nam yêu nước, những người chủ tương lai của nước nhà, những người cũng giống như cha anh mình phải sống trong thân phận nô lệ, một luồng sinh khí mới, một con đường cách mạng mới. Bằng khát vọng tuổi trẻ và kinh nghiệm của chính bản thân mình, Người muốn thức tỉnh thanh niên, truyền cho họ con đường cách mạng, để đi tới thức tỉnh cả dân tộc, đó là phương pháp cách mạng đúng đắn, thể hiện một tầm nhìn vĩ đại. Năm 1930, tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) một quyết định kịp thời, sáng suốt, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và sự sáng tạo trong cả hoạt động lý luận và thực tiễn đó là Người chủ trì Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Một thời kỳ mới trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc đã được mở ra: Thời kỳ giai cấp công nhân với đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo phong trào cả nước theo con đường cách mạng vô sản. Người đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử, trở thành người sáng lập Đảng ta – Đảng của giai giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam.

        Cuộc hành trình của Nguyễn Ái Quốc trong gần 10 năm tiếp theo để trở về nước đầy gian nan, thử thách, những thử thách lớn với Người xuất hiện không chỉ từ phía kẻ thù, từ trong nội bộ những người cách mạng, mà ngay cả tư tưởng của Người. Trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 18 – 2 – 1930, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Đã hai lần tôi cố gắng về An Nam, nhưng phải quay trở lại. Bọn mật thám và cảnh sát ở biên giới quá cẩn mật”(7). Từ giữa năm 1931 đến năm 1933, Nguyễn Ái Quốc bị thực dân Anh bắt giam. Đầu năm 1934 sau khi thoát khỏi nhà tù, Người trở lại Moskva. Khoảng thời gian gần 5 năm (1934 – 1938), Người phải sống trong bầu không khí nghi ngờ bao trùm, trong những xáo động của Quốc tế cộng sản… Nhưng với sự kiên định lập trường và cách làm của mình, đồng thời giữ vững nguyên tắc tổ chức của Đảng, không chịu sức ép của hoàn cảnh đã giúp Nguyễn Ái Quốc vượt qua khó khăn, thử thách, đồng thời bảo vệ và phát triển đường lối đúng đắn của mình đã lựa chọn cho Đảng, cho dân tộc. Dù trước sự kiềm tỏa, khống chế gắt gao của kẻ thù, Nguyễn Ái Quốc vẫn luôn theo dõi sát sao tình hình trong nước để tìm thời điểm thích hợp trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Được sự đồng ý của Quốc tế Cộng sản, năm 1938, Người rời Liên Xô với nhiệm vụ “đến Trung Quốc để công tác trong Đảng Cộng sản Đông Dương”(8). Đây chính là cơ hội để Người tìm cách trở về nước. Tại Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc vẫn tích cực hoạt động truyền đạt tinh thần các nghị quyết của Quốc tế Cộng sản, đồng thời bắt liên lạc với Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng để tìm hiểu tình hình, nghiên cứu các phương án trở về Tổ quốc. Đến cuối tháng 10 – 1940, Người cùng một số cán bộ rời Côn Minh về Quế Lâm đi xuống Tĩnh Tây (Quảng Tây) sau đó di chuyển xuống Nậm Quang ở sát biên giới Việt – Trung. Đến ngày 28 – 1 – 1941, sau 30 năm bôn ba nước ngoài đi tìm con đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã trở về Tổ quốc. Khi bước tới gần cột mốc 108 nằm trên biên giới Việt – Trung, Người đứng lặng hồi lâu, bồi hồi xúc động: “Bao nhiêu năm thương nhớ, đợi chờ. Hôm nay mới bước chân về nơi non sông gấm vóc của mình”(9). Người dừng chân cúi đọc những dòng chữ khắc sâu trên bia đá rồi đứng lặng hồi lâu hướng tầm mắt về phía dải đất Tổ quốc thân yêu. Người về khi mùa Xuân đang đến, mùa đẹp nhất của năm, cũng là mùa hi vọng cho một tương lai tươi sáng của dân tộc Việt Nam. Đây là thời khắc vô cùng quan trọng của Người, kết thúc chặng đường dài sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, hoạt động sôi nổi, đầy khó khăn, hiểm nguy ở nước ngoài, đồng thời mở ra thời kỳ phát triển mới của cách mạng Việt Nam, thời kỳ chuẩn bị về mọi mặt, tiến tới phát động cao trào Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

       Sau khi về nước, Nguyễn Ái Quốc trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 của Đảng, từ ngày 10 đến ngày 19 – 5 – 1941 vạch ra những sách lược cụ thể, giải quyết mục tiêu cao nhất của cách mạng lúc này là: Độc lập dân tộc, kiên quyết giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và cấp thiết hơn bao giờ hết, nhưng vẫn nhấn mạnh tầm quan trọng của đấu tranh giai cấp. Đề ra các phương pháp cụ thể, tích cực chuẩn bị lực lượng để khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền tiến lên tổng khởi nghĩa. Từ Nghị quyết đúng đắn của Hội nghị trung ương 8 đã được toàn Đảng và toàn dân thực hiện, dấy lên cao trào đánh Pháp, đuổi Nhật, thúc đẩy toàn bộ tiến trình của phong trào phóng dân tộc dẫn tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Khát vọng của Người đã thành hiện thực khi giành lại độc lập, tự do, đưa dân tộc Việt Nam bước sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

       Từ khát vọng Bến cảng Nhà Rồng năm 1911 đến thời khắc lịch sử mùa xuân 1941, ánh sáng tư tưởng độc lập dân tộc, tự chủ, tự lực, tự cường của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục lan tỏa, là ngọn đuốc soi đường cho Đảng, cho toàn dân tộc Việt Nam tiếp tục thực hiện những khát vọng lớn hơn, khát vọng về một Việt Nam hùng cường trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Hi vọng trong một tương lai không xa, dân tộc Việt Nam sẽ “sánh vai với các cường quốc năm châu” (10) như lời mong ước của Bác Hồ. Kỷ niệm 85 năm Bác Hồ trở về nước cũng là dịp để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tiếp tục tôn vinh cuộc đời, sự nghiệp cách mạng và những cống hiến vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc Việt Nam.

                                                                                                                  PHAN THỦY

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1) “Bác về Pác Bó” của nhà cách mạng Cao Hồng Lãnh

(2). Hồ Chí Minh:Toàn tập, t.9, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996

(3), (4). Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

(5). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10.

(6). Hồ Chí Minh: Toàn tập, t1, Sđd.

(7). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3.

(8). Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, t.1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.

(9). Vừa đi đường vừa kể chuyện, trang 69, Nxb Chính trị Quốc gia, Nxb Thanh niên, Hà Nội tháng 5-1994

(10). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *