Ngày 28-1-1941 (tức mùng 2 Tết Tân Tỵ), Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vượt qua cột mốc 108 trên biên giới Việt Nam – Trung Quốc, tại làng Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng (nay là xã Trường Hà, Tỉnh Cao Bằng) trở về Tổ quốc sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, cứu dân để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đây là một sự kiện lịch sử quan trọng, mở ra thời kỳ phát triển mới của cách mạng Việt Nam, từng bước đưa dân tộc Việt Nam đi tới những mùa Xuân thắng lợi.
Trong Bức tranh sơn dầu vẽ Bác Hồ trở về tổ quốc của họa sỹ Trịnh Phòng, chúng ta thấy có 5 người về cùng với Bác vậy những đồng chí đó là ai? Trong bài viết này xin được cung cấp tới bạn đọc một số tư liệu về 5 đồng chí đó.
1.Đồng chí Phùng Chí Kiên. tên thật là Nguyễn Vĩ, sinh ngày 18/5/1901, tại xã Diễn Yên huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An (nay là xã Hùng Châu, tỉnh Nghệ An). Năm 1925, sang Quảng Châu, Trung Quốc dự lớp huấn luyện cách mạng đầu tiên do đồng chí Nguyễn Ái Quốc tổ chức. Ông đã tốt nghiệp trường quân sự Hoàng Phố và tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong tổ chức xây dựng đơn vị quân đội, chỉ huy các trận đánh và các chiến thuật tác chiến. Năm 1931, sang Liên Xô theo học tại trường Đại học Phương Đông của Quốc tế cộng sản. Năm 1935, ông tham gia Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương, được bầu vào Ban Thường vụ Trung ương, phụ trách công tác Đảng ở hải ngoại. Năm 1940, ông cùng Bác Hồ từ Vân Nam về Tịnh Tây (Quảng Tây) tham gia giảng dạy lớp huấn luyện cho 40 cán bộ tỉnh Cao Bằng tại làng Nặm Quang (Trung Quốc). Ngày 28-1-1941 ông theo Bác Hồ về nước. Để có tài liệu giảng dạy cho cán bộ địa phương, Bác Hồ giao cho Phùng Chí Kiên soạn thảo các bài viết về “Con đường giải phóng dân tộc”, trong đó có nội dung về đấu tranh vũ trang, chiến tranh cách mạng, chiến thuật chiến tranh du kích, đồng thời tổ chức các lớp huấn luyện quân sự cho các địa phương ở Cao Bằng, đào tạo cán bộ Việt Minh cho các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn và các tỉnh miền xuôi. Tại Hội nghị lần thứ tám Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Khuổi Nậm (Pác Bó), ông được bầu làm Ủy viên trung ương Đảng, được cử về khu căn cứ Bắc Sơn lãnh đạo Cứu quốc quân. Ông đã anh dũng hy sinh vào ngày 21/8/1941 trong trận chống địch bao vây tại Ngân Sơn, Bắc Kạn.
Ghi nhận công lao của đồng chí Phùng Chí Kiên trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, ngày 23/9/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 89/SL truy phong cấp tướng cho đồng chí Phùng Chí Kiên. Đây là sắc lệnh phong tướng đầu tiên của Nhà nước ta. Tháng 11/2003, Đảng, Chính phủ ra quyết định công nhận đồng chí Phùng Chí Kiên là nguyên Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng (khóa I), cán bộ lãnh đạo quân đội cấp tướng, liệt sĩ hy sinh anh dũng trong chiến đấu. Ngày 23/8/2011, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có Quyết định số 2602/QĐ-BVHTTDL xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia Khu lưu niệm đồng chí Phùng Chí Kiên ở Xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An (nay là xã Hùng Châu, tỉnh Nghệ An) để ghi nhớ công lao vị tướng đầu tiên của QĐND Việt Nam. Tên của ông đã được đặt cho các con đường ở Hà Nội, Vinh, Đồng Hới, Huế, Thái Nguyên, Đà Nẵng, Hải Dương, Lào Cai và Lạng Sơn.
- Đồng chí Lê Quảng Ba tên thật là Đàm Văn Mông, sinh năm 1915, ở Nà Nghiềng, xã Sóc Hà (Hà Quảng – Cao Bằng), vùng đất giàu truyền thống văn hóa và phong trào đấu tranh cách mạng, nơi sớm thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của huyện Hà Quảng ngày 5/6/1931. Tháng 5/1932, khi mới 17 tuổi ông đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, tháng 5/1936 là Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa đầu tiên. Năm 1940 ông được cử sang Tĩnh Tây học Trường Quân sự Đệ tứ chiến khu. Tại đây, ông gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và đoàn cán bộ hải ngoại. Cảm phục tinh thần yêu nước của chàng trai dân tộc Tày, Bác Hồ đặt bí danh cho ông là Lê Quảng Ba và giao nhiệm vụ đưa 40 anh em đang học ở Tĩnh Tây về làng Nặm Quang dự lớp huấn luyện do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức. Về nước cùng Bác Hồ ngày 28/1/1941, ông là người tổ chức bảo vệ, lo hậu cần cho Bác và các đồng chí cán bộ cách mạng. Đặc biệt trong thời gian diễn ra Hội nghị lần thứ tám Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ông đã tổ chức bảo vệ tuyệt đối an toàn, góp phần vào thắng lợi to lớn của hội nghị. Từ sau ngày cách mạng thành công 1945, ông vào Quân đội lần lượt đảm trách những chức vụ quan trọng như: Đại đoàn trưởng Đại đoàn 316; Chỉ huy trưởng chiến dịch Thập vạn đại sơn, giúp Trung Quốc giải phóng vùng Đông Bắc, Tư lệnh trưởng Quân khu Việt Bắc (1949). Đồng chí Lê Quảng Ba được thụ phong quân hàm Thiếu tướng năm 1958, là tướng lĩnh người Tày đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Năm 1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, đồng chí Lê Quảng Ba được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ông được cử làm Trưởng ban Dân tộc Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Chính phủ. Ông mất năm 1988, hưởng thọ 73 tuổi.
- Đồng chí Đào Thế An, tài liệu ghi chép về ông rất hiếm hoi. Chỉ ghi tên là Thế An (không ghi họ). Qua tìm hiểu một số tư liệu trong cuốn hồi ký của bà Nông Thị Trưng, cùng hoạt động với Thế An ở trong đội du kích Pác Bó: “Đến tối thứ tư, tôi được tin báo có đồng chí Quốc Vân và đồng chí Thế An (là em một phó lý Đoạt) đến gặp tôi. Tôi kể tình hình cho hai đồng chí nghe cả việc chung và sự rình mò của bọn tay sai”(“Những ngày sống cùng Bác” – Sở Văn hóa Thông tin Cao Bằng xuất bản năm 1990 – trang 28). Còn tại Bảo tàng tỉnh Cao Bằng có một bản sao lý lịch Đảng viên, người Đảng viên trong bản lí lịch đó có tên là Đào Mạnh Vi, sinh ngày 19/8/1916, tại Cốc Xâu, Sóc Giang, Hà Quảng (nay là xã Trường Hà tỉnh Cao Bằng) bí danh là Xô Liên. Trong lý lịch có ghi: “Năm 1940, bí mật đi sang Tầu, hoạt động bí mật ở Tầu, cùng các đồng chí về nước hoạt động trong nước. Năm 1942 vào đội du kích bảo vệ cơ quan Hồ Chủ tịch. Năm 1946, tham gia bộ đội Nam tiến, chiến đấu ở Trung bộ và Nam bộ. Năm 1950 là Huyện đội trưởng huyện Trấn Biên. Năm 1951 ông mất ở quê nhà lúc 35 tuổi”. Theo bản lý lịch thì Đào Mạnh Vi có thể là Đào Thế An, nhưng trong lý lịch không thấy ghi bí danh là Thế An mà chỉ ghi là Xô Liên. Qua trao đổi với các đồng nghiệp tại khu di tích quốc gia đặc biệt Pác Bó các đồng chí cung cấp thêm một số tư liệu, hiện vật lưu giữ tại nhà anh Đào Trường Thọ ở Cốc Xâu người thờ cúng đồng chí Thế An. Ông Ngoại của anh Đào Trường Thọ là ông Đào Xuân Phục anh trai của Đào Mạnh Vi tức Thế An. Tại nhà anh Đào Trường Thọ còn có tấm Bằng huân chương kháng chiến mà gia đình đang lưu giữ, chữ đã mờ, nhưng tên người được tặng huân chương còn rõ: Chủ tịch nước tặng huân chương kháng chiến cho đồng chí Đào Mạnh Vi – tức Thế An. Đây là bằng chứng quan trọng nhất khẳng định đồng chí Đào Mạnh Vi là đồng chí Đào Thế An.
- Đồng chí Hoàng Văn Lộctên thật Nguyễn Văn Ty, sinh năm 1900, quê tại xã Lương Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình (nay là xã Quảng Ninh, Tỉnh Quảng Bình). Ông là một Việt kiều ở Thái Lan. Năm 1928, khi Nguyễn Ái Quốc đến Thái Lan đã chọn Nguyễn Văn Ty và đặt tên mới là Phạm Văn Lộc làm bảo vệ đi cùng Bác khắp 16 tỉnh Đông Bắc Thái Lan nơi có Việt kiều sinh sống nhằm tuyên truyền cách mạng cho kiều bào yêu nước. Tháng 5/1940, Phạm Văn Lộc gặp lại lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại Côn Minh rồi cùng Người về nước, ông được giao nhiệm vụ nấu ăn cho Bác Hồ và cả cơ quan. Những ngày ở Pác Bó, cuộc sống vô cùng gian khổ và thiếu thốn. Để cải thiện bữa ăn đạm bạc cho Bác Hồ và các đồng chí khác, ông Lộc không ngại khó khăn gian khổ mò cua, bắt ốc, trồng rau, đơm cá… Trong thời gian hoạt động tại Cao Bằng, ông hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một người đầu bếp đầu tiên của Bác Hồ. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và các cơ quan trở về thủ đô Hà Nội. Riêng ông Lộc cùng với một số đồng chí khác được Bác Hồ cử ở lại Việt Bắc tiếp tục xây dựng “hậu phương lưu trú”. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Bác Hồ cùng Trung ương Đảng trở lại Tân Trào, bắt đầu cuộc trường kỳ kháng chiến. Ông Hoàng Văn Lộc đang làm việc tại công binh xưởng, được gọi trở về cơ quan Phủ Chủ tịch để làm nhiệm vụ cấp dưỡng, nấu ăn cho Bác. Theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ: Trong hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, ngày 3 tháng 5 năm 1948, do bị một cơn sốt rét ác tính, ông Lộc qua đời. Chính tay Bác và đồng chí Vũ Kỳ khâm liệm, tiễn đưa ông. Mọi người ngậm ngùi chôn cất ông Lộc trong khu rừng Khuôn Tát, xã Phú Đình, Định Hoá, Thái Nguyên. Lần sinh nhật Bác Hồ ngày 19/5/1948, các chiến sĩ bảo vệ và giúp việc tặng Bác bó hoa rừng. Người rơm rớm nước mắt bảo: “Mang hoa ra đặt trên mộ chú Lộc, trong lúc khó khăn, gian khổ làm việc không chút nề hà, đến lúc nước nhà độc lập cũng không mảy may đòi hưởng thụ. Đó là phẩm chất của Phạm Văn Lộc”. Lúc này anh em mới biết người đồng chí nhỏ nhắn, thông minh, nhanh nhẹn, linh hoạt, hay cười, lạc quan không bao giờ nói đến khó khăn gian khổ, một người làm công việc tưởng chừng như nhỏ bé, giản đơn lại có một tiểu sử đáng khâm phục.
- Đồng chí Đặng Văn Cáp tên thật là Đặng Văn Linh sinh năm 1894 tại Thượng Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh (nay là xã Đồng Lộc, tỉnh Hà Tĩnh). Xuất thân trong một gia đình nho học yêu nước, nhiều đời làm nghề bốc thuốc, chữa bệnh, cứu người. Năm 1925, ông sang Thái Lan. Năm 1926, Đặng Văn Cáp được các ông Đặng Thúc Hứa và Lê Đạt (cha Lý Tự Trọng) dìu dắt nên đã sớm giác ngộ cách mạng. Cuối năm 1928 ông gặp Nguyễn Ái Quốc, được Người tin tưởng, hướng theo con đường hoạt động cách mạng. Tháng 5/1940, Đặng Văn Cáp gặp lại lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ở Vân Nam rồi theo người về nước. Ở Pác Bó ông được giao nhiệm vụ in tài liệu và giao dịch, vận động bà con địa phương giúp đỡ lương thực. Cách mạng Tháng Tám thành công, từ căn cứ địa Việt Bắc, Bác Hồ về Hà Nội. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, ngày 20 tháng 9 năm 1945, Đặng Văn Cáp nhận lệnh của Trung ương về Hà Nội, làm thư ký biên dịch tiếng Trung và chăm sóc sức khỏe cho Bác Hồ. Do yêu cầu của công việc, sau chiến dịch Cao Bắc Lạng, Đặng Văn Cáp được Bác cử sang Trung Quốc làm Biện sự sứ ở Quảng Tây, rồi đến tháng 10/1951, ông được giao phụ trách Trường Thiếu sinh quân Việt Nam tại Quế Lâm. Năm 1957, ông về nước và làm việc tại Cao Bằng cho đến năm 1960 chuyển sang làm Chủ tịch Hội Y học Dân tộc Việt Nam. Ông là đại biểu Quốc hội khóa II, khóa III. Ông mất năm 1984, hưởng thọ 90 tuổi.
Lâm Hùng
Tài liệu tham khảo:
- Sách “Tướng lĩnh Việt Nam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ” do Sông Lam, Dũng Quyết sưu tầm và tuyển chọn, Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2014
- Đặng Văn Cáp: “Con đường dẫn tôi đến với Bác”, in trong: Bác Hồ về nước,Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, 1986, tr.49-50.
- https://caobang.gov.vn /: Lê Quảng Ba – vị tướng huyền thoại miền biên viễn
- https://caobang.gov.vn/: Phùng Chí Kiên người chiến sỹ cộng sản tiêu biểu của cách mạng Việt Nam
- https://baoquangbinh.vn/ :Chuyện hai vợ chồng người đầu bếp đầu tiên của Bác Hồ.
6.https://tienphong.vn/ chuyện về những người tháp tùng Bác Hồ về nước năm xưa.
- BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG AN – ĐẠI TƯỚNG TRẦN ĐẠI QUANG DÂNG HOA, DÂNG HƯƠNG TƯỞNG NIỆM CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
- ĐOÀN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO DÂNG HOA, DÂNG HƯƠNG TƯỞNG NIỆM CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TẠI KHU DI TÍCH KIM LIÊN
- KHU DI TÍCH KIM LIÊN THAM GIA HỘI NGHỊ XÚC TIẾN, KẾT NỐI DU LỊCH NGHỆ AN – THÁI NGUYÊN VÀ CÁC TỈNH PHÍA BẮC NĂM 2024
- KHU DI TÍCH KIM LIÊN TỔ CHỨC NÓI CHUYỆN CHUYÊN ĐỀ
- ĐOÀN ĐẠI BIỂU TỈNH ỦY, HĐND, UBND, UBMT TỔ QUỐC TỈNH NGHỆ AN DÂNG HƯƠNG, DÂNG HOA TƯỞNG NIỆM CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH









