NGƯỜI ĐỨNG NGOÀI MỌI TÔN VINH ĐỂ Ở MÃI TRONG LÒNG DÂN

Có những con người đi qua lịch sử không phải để được tôn vinh, mà để làm nên lịch sử. Có những cuộc đời càng lặng lẽ càng trở nên vĩ đại. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một con người như thế. Người không chỉ là vị lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, mà còn là biểu tượng sáng ngời của đạo đức, nhân cách và lối sống cao thượng.

Nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, người ta nghĩ đến những thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX, đến bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam mới, đến khát vọng hòa bình, độc lập và tự do mà Người đã dành trọn đời theo đuổi. Nhưng phía sau tầm vóc của một lãnh tụ kiệt xuất còn là một nhân cách lớn, một con người suốt đời vì dân, vì nước, không màng danh lợi, không nhận vinh quang cho riêng mình.

Suốt cuộc đời bôn ba tìm đường cứu nước, trải qua muôn vàn gian khổ, tù đày, bệnh tật, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì độc lập của Tổ quốc, tự do và hạnh phúc của nhân dân. Với những cống hiến to lớn ấy, Người hoàn toàn xứng đáng được tôn vinh bằng những phần thưởng cao quý nhất. Thế nhưng, Bác đã khiêm nhường từ chối nhận huân chương, bởi với Người, phần thưởng lớn lao nhất chính là lòng tin yêu của nhân dân. Người từng khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân.” [1]

Sinh ra trong cảnh nước mất nhà tan, Nguyễn Tất Thành sớm nuôi chí cứu nước, cứu dân. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, từ bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên 21 tuổi với tên gọi Văn Ba rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước. Người ra đi với hai bàn tay trắng nhưng mang theo ý chí sắt đá và tình yêu nước nồng nàn.

Sau này, Bác từng nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.” [2] Đó không chỉ là tâm nguyện của Người, mà còn là lý tưởng soi đường cho cách mạng Việt Nam.

Ba mươi năm hoạt động ở nước ngoài là chặng đường đầy gian lao và thử thách. Người đi qua nhiều quốc gia, làm đủ nghề để mưu sinh và tiếp tục sự nghiệp cách mạng. Có những ngày chịu cảnh đói rét nơi đất khách, có lúc bị truy bắt, giam cầm, tù đày. Những tháng năm trong nhà tù Tưởng Giới Thạch là phép thử khắc nghiệt đối với cả thể xác lẫn tinh thần. Thế nhưng, mọi khó khăn không thể làm lung lay ý chí của Người. Nhật ký trong tù ra đời từ chính hoàn cảnh ấy, tỏa sáng nghị lực phi thường và niềm tin son sắt vào tương lai.

Năm 1941, Người trở về Pác Bó trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành chính quyền về tay nhân dân.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc.

Làm Chủ tịch nước nhưng Bác chưa bao giờ xem mình là người đứng trên nhân dân. Người luôn tự nhận là người phục vụ nhân dân, là công bộc của dân. Người căn dặn: “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh.” [3]

Điều khiến nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế kính phục ở Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là tài năng lãnh đạo, mà còn là lối sống vô cùng giản dị. Giữa Phủ Chủ tịch rộng lớn, Người chọn ở trong căn nhà sàn nhỏ. Bữa cơm đạm bạc với rau luộc, cá kho, cà muối. Bộ quần áo kaki bạc màu, đôi dép cao su đã mòn gót vẫn gắn bó cùng Người qua năm tháng. Sự giản dị ấy không phải là khắc khổ hình thức, mà là biểu hiện của một nhân cách lớn luôn nghĩ cho dân trước khi nghĩ đến mình. Khi đồng bào còn nghèo khó, Người không cho phép mình sống xa hoa. Khi chiến sĩ ngoài mặt trận còn chịu gian khổ, Người không thể an lòng hưởng thụ. Bác quý trọng từng thành quả lao động của nhân dân. Người tiết kiệm từng tờ giấy, từng hạt gạo; nhắc nhở cán bộ chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Với Bác, tiết kiệm không chỉ là nếp sống mà còn là đạo đức cách mạng.

Tình yêu thương con người ở Bác vô cùng sâu sắc. Người quan tâm đến mọi tầng lớp nhân dân: cụ già, em nhỏ, công nhân, nông dân, thương binh, liệt sĩ, chiến sĩ nơi tiền tuyến. Có những đêm Bác thức trắng vì lo cho chiến sĩ bị sốt, có khi nhường phần ngon cho người khác, có lúc lặng lẽ rơi nước mắt khi nghe tin đồng bào hy sinh. Đó là tình thương của một vị lãnh tụ nhưng cũng là tình thương của người cha, người ông trong đại gia đình dân tộc Việt Nam. Chính vì vậy, nhân dân luôn gọi Người bằng hai tiếng thân thương: Bác Hồ.

Với những công lao trời biển ấy, lẽ ra Chủ tịch Hồ Chí Minh phải là người nhận nhiều huân chương, danh hiệu cao quý nhất. Nhưng điều đặc biệt là suốt cuộc đời mình, Bác luôn khiêm nhường từ chối những phần thưởng dành riêng cho cá nhân. Việc Bác không nhận huân chương không phải vì Người không xứng đáng, mà bởi Người có một quan niệm rất sâu sắc về cách mạng và vai trò của nhân dân. Theo Bác, mọi thắng lợi đều bắt nguồn từ sức dân. Nhân dân là người làm nên lịch sử. Người lãnh đạo chỉ là người tổ chức, tập hợp và dẫn đường. Bởi vậy, nếu người lãnh đạo nhận hết vinh quang về mình thì sẽ không công bằng với biết bao người mẹ tiễn con ra trận, bao chiến sĩ ngã xuống nơi chiến trường, bao người dân vô danh âm thầm góp sức cho độc lập, tự do. Trong trái tim Bác, công lao ấy thuộc về nhân dân.

Với Bác, huân chương cao quý nhất không nằm ở kim loại quý hay dải băng lấp lánh, mà nằm trong lòng dân. Lịch sử đã ghi lại hai lần Bác từ chối nhận huân chương cao quý.

Lần thứ nhất: Năm 1963, khi Quốc hội dự định trao tặng Người Huân chương Sao Vàng – phần thưởng cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bác chân thành xin chưa nhận. Bởi khi ấy đất nước còn chia cắt, đồng bào miền Nam còn trong khói lửa chiến tranh. Người đề nghị: “Chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hòa bình thống nhất, Bắc – Nam sum họp một nhà, Quốc hội sẽ cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi Huân chương cao quý. Như vậy thì toàn dân ta sẽ sung sướng, vui mừng”. [4]

Lần thứ hai: Năm 1967, khi Liên Xô quyết định trao tặng Người Huân chương Lênin – phần thưởng cao quý nhất của Liên Xô, Bác gửi điện cảm ơn và cũng tha thiết đề nghị tạm hoãn. Bởi Người cho rằng, khi giặc Mỹ đang tàn phá đất nước, đồng bào còn chịu bom đạn, riêng mình được hưởng vinh dự lớn lao thì lòng Người không yên. Bác xin chỉ nhận vào ngày nhân dân Việt Nam đánh thắng giặc Mỹ, giải phóng hoàn toàn đất nước:“Đến ngày nhân dân chúng tôi đánh đuổi được bọn đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn đất nước Việt Nam, tôi sẽ đại biểu cho toàn thể đồng bào tôi, trân trọng và vui mừng lãnh lấy Huân chương mang tên Lênin vĩ đại”. [5]

Cả cuộc đời cống hiến cho dân tộc, với công lao to lớn không gì sánh được, Người vẫn luôn cho rằng mình chưa làm tròn nhiệm vụ với nhân dân, với Tổ quốc. Đó là đỉnh cao của đức khiêm nhường, của đạo đức cách mạng và lòng yêu nước chân thành. Ngay cả trong bản Di chúc thiêng liêng, Bác cũng không nhắc đến công lao hay mong muốn được vinh danh. Điều Người căn dặn là phải giữ gìn đoàn kết, chăm lo cho thương binh, gia đình liệt sĩ, bồi dưỡng thế hệ trẻ và xây dựng đất nước hòa bình, thống nhất, giàu mạnh.

Chỉ sáu năm sau ngày Bác đi xa, non sông mới thu về một mối. Ngày mà đồng bào miền Nam có thể trực tiếp trao tặng huân chương cao quý cho Người thì Bác đã không còn nữa. Bác ra đi khi trên ngực trái không một tấm huân chương, nhưng Người mang theo phần thưởng lớn lao nhất: lòng biết ơn, kính yêu của toàn thể nhân dân Việt Nam và bạn bè tiến bộ trên thế giới.

Hôm nay, mỗi khi nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta không chỉ nhớ đến một lãnh tụ kiệt xuất, mà còn nhớ đến một con người suốt đời sống thanh bạch, khiêm nhường, nhân ái và tận trung với nước, tận hiếu với dân. Sự vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh không nằm ở danh hiệu hay huân chương, mà ở chỗ: càng nghĩ về Bác, ta càng thấy mình nhỏ bé; càng học theo Bác, ta càng thấy cần sống tử tế hơn, trong sạch hơn, khiêm nhường hơn và có trách nhiệm hơn với gia đình, xã hội, với Tổ quốc.

Trong không khí cả nước hướng về những ngày lễ lớn của dân tộc, đặc biệt là kỷ niệm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta càng thêm nhớ Bác, biết ơn Bác và tự hào về Người. Dù Bác đã đi xa, nhưng trong mỗi mùa vui của non sông, trong trái tim triệu triệu người Việt Nam vẫn luôn ngân lên cảm xúc thiêng liêng: “Như có Bác trong ngày đại thắng.”

 

Chú thích:

[1]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, Hà Nội, 2011, tập 10, tr.453

[2]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 15, tr.627 [3]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 4, tr.51. [4]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 14, tr.80. [5]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 15, tr.400 – 401.

 

Phạm Hương

 

 

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *