GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, VĂN HÓA DI TÍCH ĐỀN THÁNH CẢ THỜ TƯỚNG QUÂN NGUYỄN ĐẮC ĐÀI TẠI KIM LIÊN

Đền thờ Tướng quân Nguyễn Đắc Đài nằm ở đỉnh thứ ba của núi Chung, thuộc xã Kim Liên, tỉnh Nghệ An. Theo sự tích ghi trong gia phả họ Nguyễn hiện còn lưu giữ ở xóm Ngọc Đình, tổ tiên của Nguyễn Đắc Đài, nguyên quán ở làng Đống Thượng, sau thuộc xã Trung Mưu, tổng Thông Lạng, huyện Hưng Nguyên (nay là xã Lam Thành, tỉnh Nghệ An), dời lên ở làng Ngọc Đình, xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đường (nay là xóm Ngọc Đình, xã Kim Liên, tỉnh Nghệ An). Người con cả của dòng họ tên là Nguyễn Khổng đến Ngọc Đình lấy vợ, sinh con trai là Nguyễn Khám. Ông Nguyễn Khám lập gia đình và sinh được 3 người con trai, Nguyễn Đắc Đài là con trai thứ hai. Lớn lên, Nguyễn Đắc Đài là một chàng trai khôi ngô, khỏe mạnh, giỏi võ nghệ, nổi tiếng trong vùng.

Vào nửa đầu thế kỷ XIV, triều vua Trần Hiển Tông (1324–1341), nước ta bị giặc Bồn Man – một tiểu vương quốc cổ thuộc tỉnh Xiêng Khoảng (Lào) ngày nay – quấy phá. Vua xuống chiếu chiêu tập anh tài ra giúp nước. Nguyễn Đắc Đài hăng hái phụng chiếu, sung vào quân ngũ, tham gia đánh giặc và lập nhiều chiến công xuất sắc, được nhà vua phong là Hoa Lâm tướng quân, sau đổi là Xuân Lâm tướng quân, được xếp là một trong 10 tướng giỏi của đất nước thời nhà Trần.

Một thời gian sau, lại có giặc ở phía Tây Bắc quấy nhiễu. Ông phụng mệnh đem quân đi đánh dẹp, giặc thua, nhưng không may ông bị trọng thương. Trên đường cưỡi ngựa về quê, qua làng Hoàng Trù, ông để rơi mấy giọt máu. Về đến làng Ngọc Đình thì ông mất. Hôm đó là ngày 18 tháng 8 âm lịch, năm Đinh Sửu (1337). Mộ ông được táng ở một khu đất rộng chừng một sào Trung Bộ, rất bằng phẳng, tại làng Ngọc Đình.

Cũng theo gia phả họ Nguyễn ở xóm Ngọc Đình, lúc đầu làng dựng một ngôi đền nhỏ để thờ Xuân Lâm tướng quân Nguyễn Đắc Đài, gọi là đền Thánh Cả. Sang đến thời Lê, có một tướng quân đem quân đi dẹp giặc ở vùng này. Khi qua đền, ông vào thắp hương khấn nguyện, được linh ứng, thắng trận khải hoàn. Về tới kinh đô, để nhớ ơn vị thần được thờ trong đền Thánh Cả, tướng quân đã tâu lên nhà vua. Vua phong sắc thần và cho tu bổ đền khang trang, giao cho hai xã Chung Cự và Gia Lạc hương khói, phụng thờ. Đền gồm ba tòa thượng, trung, hạ điện, có đủ đồ tế khí, gươm giáo, ngựa gỗ khá uy nghi, đẹp đẽ. Ở làng Hoàng Trù, nơi Nguyễn Đắc Đài để rơi mấy giọt máu, dân làng cũng dựng lên một ngôi đền nhỏ để thờ ông. Thời niên thiếu, khi còn ở làng Sen (1901–1906), Chủ tịch Hồ Chí Minh thường được thân phụ Nguyễn Sinh Sắc dẫn sang đền thờ để thắp hương tưởng nhớ Tướng quân – một người con ưu tú của quê hương.

Trước năm 1945, hằng năm, xã Chung Cự và tổng Lâm Thịnh mở lễ hội vào ngày 18 tháng 8 âm lịch để kỷ niệm ngày mất của Tướng quân Nguyễn Đắc Đài. Trước khi vào đại lễ, nhân dân tổ chức rước thần từ ngôi đền ở làng Hoàng Trù lên đền Đức Thánh Cả ở làng Ngọc Đình. Lễ hội đền Thánh Cả được tổ chức rầm rộ, vui vẻ, là dịp để người dân cùng gìn giữ và hưởng thụ những giá trị văn hóa của quê hương, xứ sở. Trước Cách mạng Tháng Tám, đền thờ là nơi hội họp của các chi bộ Đảng thuộc tổng Lâm Thịnh giai đoạn 1930–1931. Sau này, đền bị phá, chỉ còn lại đền Thượng.

Ghi nhớ công ơn người có công với dân, với nước, năm 2015, với nguồn kinh phí xã hội hóa từ nhân dân và sự đóng góp của các nhà hảo tâm trong và ngoài tỉnh, ngôi đền được phục dựng tại vị trí cũ và hoàn thành vào năm 2016, với tổng diện tích 7.523 m².

Đền thờ Tướng quân Nguyễn Đắc Đài hiện nay quay về hướng Nam, nhìn ra dòng sông Lam, sau lưng đền tựa vào núi Chung làm hậu chẩm. Đền được xây dựng quy mô, thiết kế khá hài hòa, gồm cổng, sân, hạ điện, trung điện và thượng điện. Cổng đền khá cao, được làm theo kiểu tứ trụ gồm 4 cột nanh. Bộ phận dưới cùng là chân bệ, được làm theo kiểu gờ chỉ giật cấp. Bốn phía thân trụ được nhấn chìm hình chữ nhật dọc theo thân trụ; phía trên thân trụ là một bệ vuông thót đáy. Bao trùm lên bệ vuông thót đáy là bộ phận kiểu chân quỳ; trên cùng là hình tượng con nghê. Các con nghê ngoảnh mặt đối diện nhau, trông mập mạp, khỏe mạnh và sinh động, được tạo dáng ở tư thế ngồi, hai chân trước vươn lên cao, mắt tròn lồi mở to, miệng há rộng, hai chân sau đứng trụ vững chắc.

Ngoài tứ trụ, bề mặt ngoài được trang trí 3 tượng phù điêu gồm voi phục và hai tượng Hộ pháp. Nối liền về mặt bên của hai trụ quyết phía trong là hệ tường zắc ôm trọn bề mặt phía trước của di tích.

Qua cổng đền là đến sân đền, diện tích khoảng 400 m². Giữa sân xây một tắc môn; mặt trước tắc môn là hình tượng con hổ được đắp nổi khá độc đáo, mặt sau đắp nổi hình chữ Vạn. Phía trước tắc môn đặt hai con voi bằng sứ và một lư hương lớn bằng đá, thiết kế theo kiểu chân quỳ; thân lư hương được tạo hình với những vân mây uốn lượn khá mềm mại.

Nhà hạ điện gồm 3 gian, hai chái, khung nhà làm bằng gỗ lim, mít, kiến trúc có dạng 4 mái (theo kiểu hồi văn). Trên mái có kìm nóc, rồng chầu nguyệt, con sô, đầu đao; nhà được lợp ngói vảy cổ kính, bộ mái xòe ra bốn phía, chiếm 2/3 chiều cao của ngôi nhà, trông rất duyên dáng và sinh động. Trên bờ nóc mái chính diện là hình ảnh “Lưỡng long chầu nhật”. Nghệ thuật trang trí trên các con rường của các vì được chạm bong kênh với hình tượng hoa dây; các đấu hình tròn được chạm những cánh sen cách điệu và hình ảnh tùng, cúc, trúc, mai, làm tăng thêm tính mỹ thuật và trang nghiêm. Đặc biệt, mặt trước câu đầu của hai vì là hình ảnh chim phượng được các nghệ nhân chạm nổi trong tư thế đang bay, đôi cánh dang rộng bao trùm toàn bộ bề mặt câu đầu, thân hình mập, đầu phượng ngoảnh lại phía sau, bố cục chặt chẽ trên nền hoa dây. Tiếp đến là hai đầu bẩy chạm khắc các đề tài phong phú như cá chép hóa rồng, hươu, nai, thể hiện khá sinh động.

Hạ điện là nơi tập trung trước khi vào hành lễ nên tại đây bài trí một hương án sơn son thếp vàng. Trên hương án đặt một cỗ ngũ sự gồm: lư hương, hai con hạc gỗ, hai cọc sáp.

Nhà trung điện: Qua hạ điện tiếp đến là sân lộ thiên rồi đến trung điện. Trung điện được làm ba gian, có kiến trúc và kết cấu giống với hạ điện nhưng kích thước và diện tích nhỏ hơn.

Nhà thượng điện: Thượng điện là bộ phận kiến trúc cuối cùng của di tích, được làm theo kiểu “Trùng thiềm điệp ốc”, có nghĩa là mái sau của nhà trước nối liền với mái trước của nhà sau, được xây dựng theo kiểu chiều dọc. Thượng điện có 1 gian, được tạo bởi hai bộ vì nối nhau bằng các đường hoành và xà dọc, ngang. Chiều cao của thượng điện tính từ thượng lương xuống là 4 m; xung quanh xây tường, có 4 cột quyết đỡ 4 đầu mái. Thượng điện là nơi thờ Xuân Lâm tướng quân Nguyễn Đắc Đài.

Việc phục dựng Đền thờ Tướng quân Nguyễn Đắc Đài nhằm thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tín ngưỡng thờ tự trong đời sống của nhân dân địa phương, đồng thời bảo lưu những giá trị lịch sử và nét văn hóa vật thể riêng của địa phương. Qua đó, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với những giá trị văn hóa quý báu cần gìn giữ, lưu truyền; góp phần phát huy truyền thống anh dũng ngàn năm dựng nước và giữ nước của nhân dân ta, đóng góp vào nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc của quê hương, đất nước. Nơi đây cũng là địa chỉ đỏ để du khách muôn phương về tham quan, chiêm bái, dâng nén tâm hương tưởng nhớ, tri ân vị tướng tài của dân tộc.

Lâm Hùng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *