Mỗi độ thu về, khi những lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên khắp các nẻo đường để kỷ niệm ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, trong lòng mỗi người Việt Nam lại vang vọng một câu nói ngắn gọn nhưng chứa đựng sức mạnh ngàn cân của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.
Đó không chỉ là một khẩu hiệu hành động trong thời khắc quyết định của dân tộc vào giữa tháng 8 năm 1945, mà còn là một triết lý lịch sử sâu sắc. Nhìn lại lịch sử, nhìn vào những tháng ngày sục sôi ấy, ta mới thấy hết cái hay, cái đúng và sự tài tình của Đảng và Bác Hồ khi đặt trọn niềm tin vào sức mạnh của chính nhân dân mình.
Khi dân tộc đứng trước ngã ba đường
Để hiểu vì sao Bác Hồ lại nhấn mạnh chữ “tự” ấy, ta phải ngược dòng thời gian về những năm tháng trước 1945. Khi đó, Việt Nam trải qua hơn 80 năm dưới ách cai trị của thực dân Pháp, rồi lại chịu thêm gánh nặng độc đài của phát xít Nhật. Nhân dân ta sống trong cảnh “một cổ hai tròng”, cực khổ đến cùng cực. Thảm họa nạn đói năm Ất Dậu (1945) đã cướp đi sinh mạng của hơn 2 triệu đồng bào từ Quảng Trị trở ra, 1 vết thương lịch sử quá đỗi đau thương.
Trong bối cảnh đó, không ít người từng mơ hồ, trông chờ vào sự giúp đỡ từ bên ngoài. Người thì mong vào sự “khai hóa” của Pháp, người lại hy vọng vào khẩu hiệu “Đại Đông Á” của Nhật, hay trông chờ vào lực lượng Đồng minh. Nhưng chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương thì nhìn thấy rất rõ: Không một dân tộc nào có thể có tự do thực sự nếu tự do ấy do người khác ban phát.
Nhận thức này đã được định hình từ rất sớm. Ngay trong Đường Kách mệnh (1927), Nguyễn Ai Quốc đã viết: “Muốn người ta giúp cho thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã.” Đến tháng 5/1941, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 do Nguyễn Ái Quốc chủ trì tại Pắc Bó (Cao Bằng) đã quyết định chuyển hướng chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Quyết nghị của Hội nghị nêu rõ: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến mấy nghìn năm cũng không đòi lại được”.
Chính tại Hội nghị này, Mặt trận Việt Minh (Việt Nam Độc lập Đồng minh) ra đời. Mục tiêu của Việt Minh cực kỳ mộc mạc và gần gũi: Liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, chính kiến, miễn là có lòng yêu nước, để cùng nhau đánh đuổi Pháp – Nhật, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập.
15 năm âm thầm gieo hạt
Thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 trông có vẻ diễn ra rất nhanh chóng, chỉ trong vòng nửa tháng (từ 14/8 đến 28/8/1945). Nhưng “sức ta” ấy không tự nhiên mà có. Đó là kết quả của cả một quá trình chuẩn bị bền bỉ, kiên cường suốt 15 năm, trải qua ba phong trào cách mạng lớn: Cao trào 1930 – 1931 với Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phong trào Dân chủ 1936 – 1939, và Cao trào Kháng Nhật cứu quốc 1939 – 1945.
Xây dựng lực lượng chính trị quần chúng, với nền tảng của “sức ta” chính là lòng dân. Việt Minh đã đi vào từng làng xã, từng nhà máy, trường học. Các tổ chức “Cứu quốc” ra đời: Nông dân cứu quốc, Công nhân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Cứu quốc quân… Từ những lớp học xóa nạn mù chữ đến các cuộc đấu tranh đòi giảm thuế, đòi gạo sống, nhân dân dần nhận ra con đường tự cứu lấy mình.
Xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa bằng việc chúng ta không chỉ đấu tranh bằng lời nói hay truyền đơn. Tháng 12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, được thành lập tại rừng Trần Hưng Đạo (Cao Bằng) với chỉ 34 chiến sĩ và vài khẩu súng thô sơ. Nhưng từ 34 con người ấy, cùng với các đội Cứu quốc quân, lực lượng vũ trang đã nhanh chóng phát triển, làm nòng cốt cho phong trào du kích ở Căn cứ địa Việt Bắc.
Nhận diện và chớp thời cơ vàng thể hiện rõ nghệ thuật chỉ đạo của Đảng còn thể hiện ở sự nhạy bén đến tài tình. Đêm 9/3/1945, khi Nhật nổ súng hất cẳng Pháp trên toàn Đông Dương, ngay trong đêm đó, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp tại Từ Sơn (Bắc Ninh) và ra bản Chỉ thị lịch sử: “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (ngày 12/3/1945).
Bản chỉ thị đã dự đoán chính xác rằng khủng hoảng chính trị sẽ sâu sắc, thời cơ khởi nghĩa đang đến gần. Đảng phát động cao trào Kháng Nhật cứu quốc, đẩy mạnh chiến tranh du kích, “phá kho thóc Nhật để giải quyết nạn đói”, thức tỉnh hàng triệu nông dân đứng lên.
Sức mạnh của triệu người như một
Nhật Bản tuyên bố hàng phục Đồng minh vô điều kiện vào ngày 15/8/1945. Lực lượng phát xít ở Đông Dương hoang mang đến cực độ. Nhưng đây cũng là lúc tình thế vô cùng phức tạp, Quân Đồng minh (Quân Tưởng Giới Thạch ở phía Bắc, quân Anh ở phía Nam) sắp sửa vào Đông Dương để giải giáp quân Nhật. Nếu chúng ta không hành động nhanh, nguy cơ đất nước rơi vào tay một kẻ thống trị mới là rất lớn.
Trước thời khắc nghìn năm có một ấy, từ lán Nà Nưa (Tuyên Quang), dù đang sốt nặng, Bác Hồ vẫn kiên quyết khẳng định với đồng chí Võ Nguyên Giáp: “Lúc này thời cơ đã đến, dù nguy hiểm đến đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Ngày 16 và 17/8/1945, Quốc dân Đại hội Tân Trào họp, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, bầu ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
Ngay sau đó, Thư gửi đồng bào toàn quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được phát đi: ‘Giờ quyết định cho số phận dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Lời kêu gọi ấy như một mồi lửa châm vào kho thuốc súng lòng yêu nước đã nén chặt bao năm.
Ngày 19/8: Hà Nội khởi nghĩa thắng lợi. Hàng vạn quần chúng nhân dân từ các huyện ngoại thành và nội thành, cầm dao, gậy gộc, giáo mác, súng tự tạo rầm rộ xuống đường, chiếm Phủ Khâm sai, Trại bảo an binh,…
Ngày 23/8: Huế – thủ phủ của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn, khởi nghĩa thắng lợi.
Ngày 25/8: Sài Gòn và toàn bộ Nam Bộ đứng lên giành chính quyền.
Chỉ trong vòng chưa đầy hai tuần, một bộ máy cai trị của thực dân và phong kiến tồn tại gần một thế kỷ đã bị sụp đổ hoàn toàn. Đó là một cuộc Tổng khởi nghĩa hầu như không có sự trợ giúp nào từ bên ngoài, chỉ dựa vào sức mạnh đoàn kết toàn dân của người Việt Nam.
Chiều ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người dõng dạc tuyên bố trước thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”
Giá trị thời đại và bài học hôm nay
Nhìn lại lịch sử để thấy rằng, tư tưởng “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” ko phải là sự cô lập hay từ chối sự hợp tác quốc tế, mà đó là tinh thần chủ động, tự lực, tự cường. Muốn người khác tôn trọng và giúp đỡ mình, trước hết mình phải mạnh, phải tự đứng vững trên đôi chân của mình. Như Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng nhận định trong hồi ký Những năm tháng không thể nào quên: “Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của sức mạnh Việt Nam, của trí tuệ Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ. Chúng ta đã không khoanh tay chờ đợi, mà đã chủ động tạo nên thời cơ và chớp lấy thời cơ”.
Hơn 80 năm đã trôi qua kể từ mùa thu lịch sử ấy, đất nước ta đã đi qua những cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại và bước vào thời kỳ đổi mới, hội nhập sâu rộng. Bài học “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn:
Trong phát triển kinh tế xã hội, muốn thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, muốn đất nước hùng cường, chúng ta ko thể chỉ tự hào về tài nguyên hay dựa vào vốn đầu tư nước ngoài (FDI), mà phải tự chủ về công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát huy nội lực của doanh nghiệp Việt.
Trong bảo vệ chủ quyền quốc gia, sự tự cường về quốc phòng, an ninh và bản lĩnh ngoại giao chính là cái gốc để giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ trong một thế giới đầy biến động.
Trong mỗi cá nhân, tinh thần ấy nhắc nhở mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, không ỷ lại, không trông chờ vào hoàn cảnh, mà phải tự học, tự rèn luyện, tự vươn lên bằng chính đôi tay và trí tuệ của mình.
Lời dặn của Bác Hồ năm xưa giản dị nhưng là chân lý muôn đời. Khi một dân tộc biết đoàn kết, biết tin vào sức mạnh của chính mình và quyết tâm hành động vì độc lập, tự do, thì không một lực lượng nào có thể ngăn cản bước tiến của dân tộc đó.
Ngọc Nguyên
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 2, 3, 4, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
Đường Kách mệnh (1927).
Thư gửi đồng bào toàn quốc (tháng 8/1945).
Tuyên ngôn Độc lập (2/9/1945).
Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 7 (1940-1945), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5/1941).
Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (12/3/1945).
Võ Nguyên Giáp (2001), Từ nhân dân mà ra & Những năm tháng không thể nào quên (Hồi ký), NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội.
Viện Sử học (1998), Lịch sử Việt Nam (1945 – 1975), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
- ĐẢNG BỘ HUYỆN THANH CHƯƠNG TUYÊN DƯƠNG ĐIỂN HÌNH TIÊN TIẾN TẠI KHU DI TÍCH KIM LIÊN
- ĐOÀN ĐẠI BIỂU TRUNG ƯƠNG HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM VỀ THĂM KHU DI TÍCH KIM LIÊN
- KHU DI TÍCH KIM LIÊN THAM DỰ LỄ GIỖ ĐỒNG CHÍ NGUYỄN THỊ MINH KHAI
- GIAO LƯU BÓNG CHUYỀN NỮ NHÂN NGÀY ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN
- KHAI MẠC LỄ HỘI ĐỀN LÀNG LỤI NĂM 2026









