Mùa xuân 1930 tại Cửu Long, Hương Cảng (Trung Quốc), Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Trải qua 14 kỳ Đại hội, Đảng ta đã khẳng định được vai trò và năng lực lãnh đạo đất nước, là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chúng ta cùng nhìn lại một số kỳ Đại hội quan trọng đã qua của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đại hội lần thứ I diễn ra từ ngày 27 đến 31/3/1935 tại Ma Cao (Trung Quốc). Đại hội được tiến hành trong bối cảnh sau cuộc khủng bố trắng của thực dân Pháp, phong trào đấu tranh của nhân dân ta từng bước phục hồi, các cơ sở Đảng trong và ngoài nước dần được tổ chức trở lại và tiếp tục hoạt động. Trên cơ sở đánh giá tình hình thực tiễn và xác định đường lối cho thời kỳ đấu tranh mới, Đại hội đã đề ra nhiệm vụ chủ yếu trong thời gian trước mắt là củng cố và phát triển Đảng, tranh thủ quần chúng rộng rãi, chống chiến tranh đế quốc. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng, gồm 13 uỷ viên, đồng chí Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư. Đại hội lần thứ I của Đảng đã khôi phục được hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến địa phương, từ trong nước ra ngoài nước, đã quy tụ được các phong trào, các tổ chức hoạt động phân tán trong toàn quốc vào một mối duy nhất đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thành công của Đại hội đã củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, góp phần thúc đẩy phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ, đó là tiền đề để cách mạng nước ta vượt qua muôn vàn khó khăn đi đến thắng lợi đầu tiên, mở ra một kỷ nguyên mới: độc lập, tự do, lập ra nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945 và cũng từ đây Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền.
Từ sau Đại hội lần thứ I, Đảng Cộng sản Đông Dương đã trải qua 16 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Lào và Campuchia giành được nhiều thắng lợi quan trọng. Song, sự nghiệp cách mạng của ba nước phát triển không đều và có những đặc điểm riêng, đòi hỏi phải có đường lối chính trị và tổ chức lãnh đạo thích hợp đối với mỗi nước, để phát huy động lực dân tộc của từng quốc gia, đưa cách mạng vững bước tiến lên giành thắng lợi. Nhằm giải quyết những yêu cầu mới của cách mạng ba nước, Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức Đại hội lần thứ II từ ngày 11 đến 19/2/1951, tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Đại hội đã xác định phương hướng, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam: “1. Đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. 2. Tổ chức Đảng Lao động Việt Nam” (1). Thông qua Chính cương, Điều lệ mới của Đảng Lao động Việt Nam. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Trung ương, đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Đảng. Tổng Bí thư là đồng chí Trường Chinh. Kể từ đây, Đảng ta có tên gọi là Đảng Lao động Việt Nam ra hoạt động công khai với cương lĩnh và đường lối, chính sách phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đại hội II đã đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc và toàn diện về tư tưởng, đường lối cách mạng đúng đắn để nước ta giành được thắng lợi to lớn trong cuộc kháng chiến chống Pháp, kết thúc với chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” năm 1954. Đây là Đại hội của khối đoàn kết toàn dân mà Đảng Lao động Việt Nam là hạt nhân, đã tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, hướng vào một mục tiêu cao nhất là kháng chiến bảo vệ nền Độc lập dân tộc.
Qua gần 10 năm từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (1951) tình hình nước ta có nhiều thay đổi quan trọng, trong bối cảnh đất nước bị chia cắt, miền Bắc vừa hoàn thành khôi phục kinh tế sau kháng chiến chống Pháp và cải cách ruộng đất cùng với cải tạo công thương nghiệp; trong khi ở miền Nam một phong trào chống chính quyền Ngô Đình Diệm và Mỹ đang diễn ra sôi nổi quyết liệt. Tình hình nêu trên đã đặt Đảng ta trước một yêu cầu bức thiết là phải vạch ra đường lối chiến lược đúng đắn để đưa ra cách mạng Việt Nam tiến lên. Từ ngày 5 đến ngày 10/09/1960 tại Hà Nội, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng diễn ra. Đại hội xác định: “Nhiệm vụ cách mạng của nhân dân ta trong giai đoạn hiện nay là: tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” (2). Riêng đối với miền Bắc, Đại hội đã xác định đường lối chung là “đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần yêu nước nồng nàn và truyền thống phấn đấu anh dũng, lao động cần cù của nhân dân ta, đồng thời tăng cường đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa anh em do Liên Xô đứng đầu, để đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no hạnh phúc ở miền Bắc và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà” (3). Cũng tại Đại hội đã quyết nghị lấy ngày 3 tháng 2 dương lịch mỗi năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng, bầu đồng chí Hồ Chí Minh giữ chức Chủ tịch Đảng, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương là đồng chí Lê Duẩn. Lịch sử chứng minh, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng thực sự là “nguồn ánh sáng mới”, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự báo, soi đường cho cuộc cách mạng nước ta trên đường đi tới hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Người khẳng định: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà” (4). Những quyết sách đúng đắn của 3 kỳ Đại hội trên đã giúp Đảng ta chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng, đất nước độc lập, thống nhất hoàn toàn.
Ngay sau khi nước nhà được thống nhất, tại Thủ đô Hà Nội từ ngày14 đến 20/12/1976 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV đã diễn ra. Đại hội thảo luận, đánh giá tình hình thực tiễn của nước ta và quyết định chuyển cách mạng Việt Nam từ cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam sang thực hiện cách mạng xã hội trên toàn đất nước; đề ra đường lối xây dựng CNXH trong phạm vi cả nước, gồm: Đường lối chung cách mạng XHCN và Đường lối xây dựng kinh tế trong thời kỳ quá độ. Đại hội đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam; bổ sung Điều lệ Đảng; bầu đồng chí Lê Duẩn làm Tổng Bí thư. Đại hội lần thứ IV của Đảng được xem là Đại hội thống nhất đất nước và đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, tiếp tục khẳng định con đường mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn; vạch ra đường lối chung đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thành công của Đại hội đã cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân bước vào công cuộc lao động sáng tạo để kiến tạo lại đất nước sau chiến tranh.
Sau 5 năm đất nước thống nhất đi lên xây dựng CNXH, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thì nước ta vẫn ở trong tình trạng trì trệ và gặp nhiều khó khăn. Sản xuất phát triển chậm trong khi dân số tăng nhanh; nền kinh tế mất cân đối nghiêm trọng, thu nhập quốc dân chưa bảo đảm được tiêu dùng xã hội… thực trạng đó đẩy đất nước lâm vào khủng hoảng. Tình hình nghiêm trọng của đất nước đặt ra cho Đảng phải có sự thay đổi. Trước bối cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng diễn ra tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 27 đến 31/3/1982. Đại hội xác định 2 nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn mới là: “Xây dựng thành công CNXH và sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN” (5). Đại hội lần thứ V có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là kết quả của một quá trình làm việc nghiêm túc, tập hợp ý kiến của toàn Đảng để đề ra nhiệm vụ, phương hướng… nhằm giải quyết những vấn đề gay gắt, nóng bỏng đang đặt ra của cách mạng Việt Nam. Đại hội đánh dấu một bước chuyển biến về tư duy đổi mới của Đảng đang được hình thành, thể hiện rõ ở việc Đảng đã có nhận thức mới về thời kỳ quá độ, phân kỳ thời kỳ quá độ và xác định chặng đường trước mắt ở Việt Nam; xác định duy trì nền kinh tế nhiều thành phần ở miền Nam; nhận thức mới về công nghiệp hóa trên cơ sở nhấn mạnh nông nghiệp là mặt trận hàng đầu trong chặng đường trước mắt, coi ổn định tình hình kinh tế – xã hội là nhiệm vụ bức thiết nhất; đồng thời, nhận thức mới về hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như làm rõ mối quan hệ của hai nhiệm vụ đó: “Tất cả vì Tổ quốc XHCN, vì hạnh phúc của nhân dân” (6).
Một trong những kỳ Đại hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với đất nước là Đại hội đại biểu lần thứ VI của Đảng diễn ra từ 15 đến ngày 18/12/1986 tại thủ đô Hà Nội. Đây được xem là Đại hội mở đầu cho thời kỳ đổi mới đất nước. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, Đại hội VI của Đảng đã thẳng thắn chỉ ra những tồn tại, hạn chế của nền kinh tế hiện vật, kế hoạch, phi hàng hóa, phi thị trường, đồng thời nhấn mạnh phải đổi mới toàn diện, trong đó phải đổi mới tư duy mà trước hết là tư duy kinh tế. Đây là bước đột phá quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng, tạo tiền đề cho việc triển khai đồng bộ các giải pháp đổi mới trên mọi lĩnh vực, nhất là đổi mới về kinh tế để chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Với tầm nhìn chiến lược, đổi mới tư duy khách quan, khoa học, chỉ rõ thực trạng đất nước, tổng kết được những kinh nghiệm từ thực tiễn thành công và thất bại, với ý thức trách nhiệm vì dân, dũng cảm thừa nhận sai lầm khuyết điểm, với tinh thần đoàn kết nhất trí cao, Đại hội VI đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử tìm ra lối thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng kéo dài ở nước ta. Đại hội VI đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, tạo ra bước đột phá lớn và toàn diện, đem lại luồng sinh khí mới trong xã hội, làm xoay chuyển tình hình, đưa đất nước dần thoát khỏi khủng hoảng, từng bước phát triển bền vững.
Đại hội VII từ ngày 24 đến ngày 27/6/1991 diễn ra trong bối cảnh đất nước bước vào công cuộc đổi mới bước đầu đã đạt được những thành tựu đáng kể, nhờ đó mà nước ta đã đứng vững và tiếp tục phát triển, tuy nhiên tình hình quốc tế và trong nước có những diễn biến phức tạp không có lợi cho đất nước đã tác động tới tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta về sự hoài nghi chế độ. Trước tình hình đó, Đại hội xác định: Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đưa đất nước đi theo con đường đổi mới, đó là mệnh lệnh của cuộc sống, là quá trình không thể đảo ngược. Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, tiếp tục đổi mới toàn diện và đồng bộ, đưa công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu với bước đi vững chắc. Trong diễn văn bế mạc Đại hội, Cố Tổng Bí thư Đỗ Mười đánh giá: “Đại hội đánh dấu bước trưởng thành mới của Đảng, cột mốc mới trong tiến trình cách mạng nước ta” (7), đáp ứng ý chí và nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân. Để hoàn thành sự nghiệp đổi mới, bản thân Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, vươn lên ngang tầm đòi hỏi của hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được thực tiễn tiếp tục bổ sung và hoàn chỉnh qua các kỳ Đại hội VIII (1996) định hình con đường phát triển lâu dài của nền kinh tế; đề ra chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tăng cường xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đại hội IX (2001) khẳng định mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế. Đại hội X (2006) chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, đưa Việt Nam hội nhập sâu rộng, gia nhập WTO; đồng thời nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đại hội XI (2011) đã kết hợp hài hòa tăng trưởng kinh tế với an sinh xã hội; bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991; nhấn mạnh phát triển bền vững gắn với tiến bộ, công bằng xã hội. Tổng kết Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm (2001 – 2010) và 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở đó, Đại hội quyết định Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Đại hội XII (2016) đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng; củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng. Đặc biệt, trong nhiệm kỳ Đại hội XII, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã nỗ lực phấn đấu vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, các nhiệm vụ trọng tâm được đề ra. Những kết quả đạt được trong nhiệm kỳ Đại hội XII có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, không chỉ tạo ra dấu ấn nổi bật, là điểm tựa cho những năm tiếp theo mà còn tạo ra niềm tin, khí thế mới để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta vững vàng vượt qua khó khăn, thử thách, tận dụng thời cơ đưa đất nước bước vào một thời kỳ phát triển mới. Trong nhiều lần phát biểu tại các Hội nghị nửa cuối năm 2020, cố Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay” (8).
Một trong những Đại hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng diễn ra tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 26/1 đến 1/02/2021. Đại hội đánh dấu chặng đường 35 năm đổi mới đất nước, đánh dấu 30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 và 10 năm Cương lĩnh (bổ sung phát triển năm 2011). Đặc biệt, Đại hội lần này cũng đánh dấu một năm vượt khó thành công trong việc thực hiện nhiệm vụ kép vừa chống dịch Covid-19, vừa phát triển kinh tế của năm 2020. Đại hội lần thứ XIII của Đảng đặt ra mục tiêu không chỉ cho nhiệm kỳ 2021 – 2025 mà còn tầm nhìn xa hơn. Năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, trở thành nước phát triển, thu nhập cao với GDP là 2.500 tỉ USD và thu nhập bình quân đầu người là 18.000 USD, hiện thực hóa khát vọng phồn vinh dân tộc.
Những thành tựu mà Việt Nam đạt được sau 35 năm đổi mới đất nước, những dấu ấn đặc biệt của nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng sẽ đặt nền móng, tiền đề để Đảng tiếp tục thực hiện những kỳ vọng rất lớn của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân luôn trăn trở với vận mệnh của đất nước, của Đảng, với hạnh phúc của nhân dân. Đại hội XIV vừa diễn ra tại thủ đô Hà Nội từ ngày 19/1 đến ngày 23/1/2026 có ý nghĩa định hướng chiến lược cho sự phát triển của đất nước, tiếp tục kế thừa và phát triển tư duy của Đại hội XIII, cụ thể hóa mục tiêu phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, khơi dậy khát vọng xây dựng Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc. Trọng tâm của Đại hội XIV chủ yếu tập trung xác định các đột phá phát triển, trong đó khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chủ yếu; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khơi thông nguồn lực, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Cùng với đó, Đại hội tiếp tục nhấn mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; nâng cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng; tiếp tục khẳng định phát triển văn hóa, con người và bảo đảm an sinh xã hội là nền tảng bền vững; đồng thời giữ vững quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh đối ngoại độc lập, tự chủ, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
Có thể khẳng định, trải qua 14 kỳ Đại hội, Đảng ta đã phát triển ngày càng mạnh mẽ, giành được những thắng lợi hết sức to lớn, chứng minh vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Những dấu ấn của các kỳ Đại hội là dịp để mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân thêm tự hào, tin tưởng vào Đảng. Truyền thống vẻ vang, bản lĩnh chính trị kiên cường và tinh thần đổi mới, sáng tạo của Đảng là nền tảng vững chắc để đất nước ta vững bước tiến lên. Với niềm tin son sắt và của toàn dân, toàn quân và quyết tâm cao trong vai trò lãnh đạo của Đảng sẽ đáp ứng được những kỳ vọng, những mục tiêu để xây dựng nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. “Dưới cờ Đảng vinh quang, vì tương lai tươi sáng của dân tộc, tiến lên, nhất định thắng. Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!” (9).
PHAN THỦY
Tài liệu tham khảo:
(1). (2). (3). (4). Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2001
(5). (6). (7). Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2004
(8).Tulieuvankien.dangcongsan.vn
(9). “Tiến lên toàn thắng ắt về ta”. Đồng chí Tô Lâm. Tổng bí thư BCH Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam.

- KHU DI TÍCH KIM LIÊN THAM DỰ HỘI NGHỊ TỔNG KẾT CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG NĂM 2025 CỦA ĐẢNG BỘ SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TỈNH NGHỆ AN
- HỌC Ở BÁC TỪ NHỮNG ĐIỀU GIẢN DỊ NHẤT TRONG HAI LẦN NGƯỜI VỀ THĂM QUÊ
- MỘT SỐ CÂU CHUYỆN BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ
- NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, ĐÓN TIẾP HƯỚNG DẪN KHÁCH THAM QUAN TẠI DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT KHU DI TÍCH KIM LIÊN
- ĐOÀN ĐẠI BIỂU LÃNH ĐẠO TỈNH NGHỆ AN DÂNG HOA, DÂNG HƯƠNG TƯỞNG NIỆM CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH









