Trong cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian khổ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các năm Ngọ thường gắn liền với những bước ngoặt lịch sử quan trọng và để lại những dấu son chói lọi làm sáng ngời nhân cách và tài năng của một vĩ nhân, đồng thời đã để lại những dấu mốc quan trọng trong sự phát triển của cả dân tộc.
Năm Giáp Ngọ 1894 Nguyễn Sinh Cung mới 4 tuổi, thì thân sinh của Người là ông Nguyễn Sinh Sắc (còn gọi là Nguyễn Sinh Huy) đậu cử nhân, khoa thi Hương Giáp Ngọ năm Thành Thái thứ 6 tại trường thi Nghệ An.
Năm Bính Ngọ 1906 Nguyễn Sinh Cung 16 tuổi, với tên gọi Nguyễn Tất Thành, cùng anh là Nguyễn Tất Đạt theo cha vào Huế lần thứ hai khi ông Nguyễn Sinh Sắc đến kinh đô nhậm chức. Tháng 9, Nguyễn Tất Thành vào học lớp sơ đẳng Trường tiểu học Đông Ba (Huế).
Năm Mậu Ngọ 1918 Người tham gia Đảng Xã hội Pháp và bắt đầu hoạt động dưới tên gọi Nguyễn Ái Quốc. Thời gian này Người hoạt động tích cực tại Pháp, tập trung nghiên cứu, tìm hiểu tư tưởng Mác-Lênin, tố cáo tội ác đế quốc, tham gia các phong trào yêu nước, và dần định hình con đường cứu nước cứu dân cho Việt Nam.
Năm Canh Ngọ 1930 hoạt động nổi bật nhất của Nguyễn Ái Quốc là việc chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) từ ngày 3-7/2/1930, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đánh dấu bước ngoặt lịch sử, chấm dứt khủng hoảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Sau đó, Người tiếp tục chỉ đạo xây dựng Đảng, củng cố tổ chức và phát triển phong trào, gửi thư yêu cầu tài liệu về nước Nga Xô viết để viết sách tuyên truyền và gửi thư cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng về việc tăng cường phát triển lực lượng. Năm 1930 là năm ghi dấu mốc quan trọng khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời dưới sự chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, mở ra thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam.
Năm Nhâm Ngọ 1942, với tên gọi là Hồ Chí Minh, hoạt động với tư cách đại biểu Việt Minh Người đã sang Trung Quốc để liên lạc với các lực lượng Đồng minh nhằm tranh thủ sự ủng hộ cho cách mạng Việt Nam, nhưng bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giữ vào ngày 13/8/1942 tại Lạng Sơn, bắt đầu chuỗi ngày bị giam cầm ở 30 nhà tù tại 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây; trong tù, Người đã sáng tác tập thơ “Nhật ký trong tù” để động viên và giữ vững tinh thần. Dù bị giam giữ, Người vẫn tranh thủ viết và gửi thư về nước, chỉ đạo phong trào cách mạng, vạch ra đường lối, chủ trương và củng cố lực lượng, đồng thời tập luyện để giữ gìn sức khỏe và tiếp tục chỉ đạo cách mạng trong nước thông qua các thư từ, và viết nhiều bài báo quan trọng như bài diễn ca “Lịch sử nước ta” để giáo dục truyền thống yêu nước, đoàn kết dân tộc, nhấn mạnh “Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do”
Năm Giáp Ngọ 1954, đây là năm diễn ra chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Sau đó, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và Chính phủ từ căn cứ Việt Bắc trở về tiếp quản Thủ đô Hà Nội vào tháng 10/1954. Năm 1954 là một cột mốc lịch sử quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, gắn liền với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp.
Năm Bính Ngọ 1966: Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang ở giai đoạn quyết liệt, ngày 17/7/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước, trong đó có câu nói bất hủ: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do“. Đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử quan trọng nhất trong năm, kêu gọi đồng bào cả nước và chiến sĩ miền Nam kiên quyết chiến đấu chống Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn, khẳng định giá trị tối cao của độc lập và tự do.
Trong không khí mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026 nhìn lại những dấu ấn qua các năm Ngọ suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây không chỉ là những mốc thời gian lịch sử, mà còn tượng trưng cho tinh thần bất khuất, ý chí tự cường và tầm nhìn chiến lược vĩ đại của vị lãnh tụ kính yêu, gắn liền với những thắng lợi quyết định của cách mạng Việt Nam. Là bài học về giữ vững niềm tin, hun đúc khát vọng phát triển trong kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam.
Nguyễn Thị Vinh

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với các học viên dự lớp bồi dưỡng đảng viên mới của Đảng bộ Hà Nội (14-5-1966). Ảnh Tư liệu TTXVN









