NGỌN LỬA TRI ÂN TỪ LỜI BÁC DẶN

  Bác Hồ, Bác Tôn và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội viếng các anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội.

      

     Từ đạo lý dân tộc đến tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh

     Có những ngày trong lịch sử không chỉ nhắc nhớ về một sự kiện mà còn khơi dậy trong mỗi người Việt Nam lòng biết ơn đối với những người đã hiến dâng tuổi xuân, máu xương vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thành kính tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh và những người có công với cách mạng; đồng thời tiếp tục lan tỏa đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” – một giá trị bền vững trong đời sống dân tộc.

     Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành tình cảm đặc biệt và sự quan tâm sâu sắc đối với thương binh, liệt sĩ và gia đình người có công. Người khẳng định sự hy sinh của họ là nền tảng làm nên thắng lợi của cách mạng và là biểu tượng cao đẹp của lòng yêu nước, tinh thần anh hùng cách mạng. Vì vậy, chăm lo người có công không chỉ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước mà còn là bổn phận thiêng liêng của toàn xã hội.

     Tư tưởng Hồ Chí Minh về thương binh, liệt sĩ không chỉ được thể hiện qua những lời căn dặn đầy nghĩa tình mà còn được hiện thực hóa bằng những chủ trương, chính sách và việc làm cụ thể. Từ việc đề nghị lấy ngày 27/7 làm Ngày Thương binh toàn quốc năm 1947, những bức thư gửi thương binh, những lần đến thăm các trại điều dưỡng đến những lời căn dặn trong Di chúc, tất cả đều phản ánh nhất quán tư tưởng nhân văn của Người: cách mạng là vì con người, và thành quả của cách mạng phải được đáp đền bằng sự chăm lo chu đáo đối với những người đã cống hiến, hy sinh vì Tổ quốc.

     Ngày nay, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, tư tưởng ấy vẫn giữ nguyên giá trị. Mỗi chính sách ưu đãi người có công, mỗi hoạt động tri ân, mỗi nén hương dâng lên các anh hùng liệt sĩ đều là sự tiếp nối lời Bác dặn, góp phần bồi đắp truyền thống yêu nước, củng cố sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và giáo dục trách nhiệm cho các thế hệ hôm nay. Chính từ ngọn lửa tri ân mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thắp lên, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn tiếp tục được gìn giữ, lan tỏa, trở thành sức mạnh tinh thần bền vững của dân tộc Việt Nam.

     Người đau nỗi đau của mỗi gia đình có người hy sinh vì Tổ quốc

     Điều làm nên chiều sâu nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về thương binh, liệt sĩ trước hết bắt nguồn từ tình yêu thương vô hạn đối với con người. Đối với Người, mỗi chiến sĩ ngã xuống không chỉ là sự mất mát của đất nước mà còn là nỗi đau của chính bản thân mình. Chính tình cảm ấy đã làm nên những lời căn dặn đầy nghĩa tình và đặt nền tảng cho đạo lý “Đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc.

     Sinh ra trên quê hương Nghệ An giàu truyền thống yêu nước và hiếu nghĩa, Nguyễn Sinh Cung sớm được nuôi dưỡng trong môi trường văn hóa thấm đẫm đạo lý “Thương người như thể thương thân”, “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước càng giúp Người thấu hiểu rằng độc lập, tự do không bao giờ có được nếu không phải đánh đổi bằng máu xương của biết bao người con ưu tú của dân tộc. Bởi vậy, ngay từ những ngày đầu lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự trân trọng đặc biệt đối với những người đã hy sinh vì Tổ quốc.

     Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Người khẳng định: “Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói.” [1]. Câu nói ngắn gọn nhưng hàm chứa ý nghĩa sâu sắc: mỗi thắng lợi của cách mạng đều được viết nên từ sự hy sinh của biết bao người con đất Việt. Vì thế, tri ân thương binh, liệt sĩ không phải là nghĩa cử mang tính cảm xúc nhất thời mà là trách nhiệm chính trị, đạo lý và lương tâm của cả dân tộc.

     Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt đời không lập gia đình riêng. Người từng bộc bạch rằng đồng bào cả nước là gia đình lớn của mình, thanh niên Việt Nam đều là con, là cháu của Bác. Chính vì coi Nhân dân là người thân nên mỗi khi nghe tin một chiến sĩ hy sinh, Người đều đau xót như mất đi một phần máu thịt:“Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột.” [2]. Lời tâm sự mộc mạc ấy cho thấy phía sau hình ảnh vị lãnh tụ kiên cường là một trái tim luôn đau nỗi đau của đồng bào, của những người mẹ mất con, người vợ mất chồng và những gia đình phải gánh chịu mất mát do chiến tranh.

     Trong tư tưởng của Người, thương binh và liệt sĩ không phải là những người cần được thương hại mà là những người có công lao đặc biệt với đất nước, xứng đáng được tôn vinh, kính trọng và chăm lo bằng lòng biết ơn chân thành. Ngay trong những năm tháng kháng chiến đầy gian khổ, khi đất nước còn muôn vàn khó khăn, Người vẫn đề nghị tổ chức Ngày Thương binh toàn quốc, khẳng định một tư tưởng nhất quán: mọi thành quả của cách mạng đều phải hướng tới con người và không bao giờ được quên những người đã hy sinh để làm nên nền độc lập của dân tộc.

     Từ tư tưởng và tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” đã trở thành chuẩn mực đạo đức của xã hội Việt Nam, tiếp tục được các thế hệ hôm nay gìn giữ và phát huy bằng những việc làm thiết thực đối với thương binh, liệt sĩ và gia đình người có công.

     Ngọn lửa tri ân không bao giờ tắt

     Điều làm nên giá trị bền vững trong tư tưởng Hồ Chí Minh về thương binh, liệt sĩ không chỉ là lòng biết ơn đối với những người đã hy sinh vì Tổ quốc, mà còn ở việc Người biến tình cảm ấy thành những chủ trương, chính sách và việc làm cụ thể. Với Hồ Chí Minh, tri ân không phải là sự tưởng nhớ mang tính hình thức mà phải được thể hiện bằng trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đối với những người đã cống hiến, hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc.

     Tình yêu thương của Bác được hiện thực hóa bằng những quyết sách giàu ý nghĩa nhân văn. Năm 1947, giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp còn vô cùng gian khổ, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 27/7 được chọn là Ngày Thương binh toàn quốc, tiền thân của Ngày Thương binh – Liệt sĩ ngày nay. Trong thư gửi Ban Tổ chức Ngày Thương binh toàn quốc đầu tiên, Người viết: “Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào… Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy.” [3].

     Hai chữ “phải biết ơn” được Hồ Chí Minh nhấn mạnh như một mệnh lệnh của lương tri. Theo Người, chăm lo người có công không phải là sự ban phát hay từ thiện, mà là sự đền đáp xứng đáng đối với những người đã hiến dâng một phần máu xương cho Tổ quốc.

     Không chỉ dừng ở chủ trương, Hồ Chí Minh còn nhiều lần trực tiếp đến thăm các trại điều dưỡng thương binh, ân cần hỏi han, động viên các chiến sĩ vượt qua thương tật, tiếp tục học tập, lao động và cống hiến. Hình ảnh Người cởi chiếc áo rét đang mặc để tặng chiến sĩ trong phong trào “Mùa đông binh sĩ” đã trở thành biểu tượng đẹp của tình quân dân và lòng nhân ái, khơi dậy phong trào giúp đỡ thương binh, chiến sĩ trên khắp cả nước.

     Trong Di chúc, khi nói về những công việc cần làm sau ngày đất nước thống nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục dành sự quan tâm đặc biệt đối với người có công. Người căn dặn: “Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình…, Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần tự lực cánh sinh.” [4]. Lời căn dặn ấy thể hiện tầm nhìn nhân văn sâu sắc. Người không chỉ mong thương binh được chăm sóc mà còn được học nghề, có việc làm, tiếp tục lao động và cống hiến, được sống bằng chính nghị lực và phẩm giá của mình. Đó là tư tưởng tiến bộ, đặt con người ở vị trí trung tâm của mọi chính sách.

     Hơn bảy mươi chín năm kể từ Ngày Thương binh toàn quốc đầu tiên và hơn nửa thế kỷ từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa, những lời dặn của Người vẫn nguyên giá trị. Từ ngọn lửa tri ân mà Bác thắp lên, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” đã trở thành nét đẹp văn hóa của dân tộc, được tiếp nối bằng những chính sách thiết thực và những nghĩa cử đầy nhân văn. Đó cũng chính là minh chứng sinh động cho sức sống bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh về lòng biết ơn, về trách nhiệm đối với những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

     Từ lời Bác dặn đến đạo lý hôm nay

     Tư tưởng Hồ Chí Minh về thương binh, liệt sĩ là sự kết tinh giữa truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây” của dân tộc với chủ nghĩa nhân văn cách mạng. Theo Người, lòng biết ơn không chỉ dừng lại ở tình cảm mà phải được cụ thể hóa bằng chính sách, hành động và trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đối với những người đã hy sinh, cống hiến vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Vì vậy, chăm lo người có công không chỉ là nhiệm vụ an sinh xã hội mà còn là thước đo bản chất tốt đẹp của chế độ và đạo lý của dân tộc Việt Nam.

     Thấm nhuần tư tưởng ấy, gần tám thập kỷ qua, Đảng và Nhà nước không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách ưu đãi người có công, đồng thời triển khai sâu rộng các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, xây dựng nhà tình nghĩa, chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, tu bổ nghĩa trang và các công trình ghi công. Những việc làm ấy không chỉ góp phần nâng cao đời sống người có công mà còn lan tỏa truyền thống yêu nước, lòng biết ơn và tinh thần trách nhiệm trong toàn xã hội.

     Đến nay, đạo lý tri ân đã trở thành một nét đẹp văn hóa của dân tộc. Mỗi dịp tháng Bảy, các hoạt động dâng hương tưởng niệm, thắp nến tri ân, chăm sóc phần mộ liệt sĩ, thăm hỏi gia đình chính sách được tổ chức trên khắp cả nước. Những việc làm bình dị nhưng giàu ý nghĩa ấy góp phần giáo dục thế hệ trẻ trân trọng lịch sử, biết gìn giữ thành quả cách mạng được đánh đổi bằng máu xương của cha ông và tiếp nối truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” bằng những hành động thiết thực.

     Đối với Khu Di tích Quốc gia đặc biệt Kim Liên – quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc nghiên cứu, bảo tồn và lan tỏa tư tưởng của Người về thương binh, liệt sĩ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thông qua các hoạt động nghiên cứu, trưng bày, thuyết minh, giáo dục truyền thống, sinh hoạt chuyên đề và tuyên truyền trên các nền tảng số, Khu Di tích góp phần đưa những giá trị tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh đến gần hơn với cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh thiếu niên và đông đảo du khách.

     Đặc biệt, những câu chuyện cảm động về tình cảm của Bác đối với thương binh, liệt sĩ, cùng những lời căn dặn trong Di chúc luôn có sức lay động sâu sắc. Qua đó, mỗi người càng thấm thía rằng hòa bình, độc lập hôm nay được đánh đổi bằng biết bao máu xương của các thế hệ đi trước, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc gìn giữ, phát huy thành quả cách mạng và xây dựng đất nước.

     Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2026) không chỉ là dịp để thành kính tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh và người có công với cách mạng, mà còn là dịp để mỗi người soi lại mình trước lời Bác dặn về lòng biết ơn và trách nhiệm công dân. Trong bối cảnh đất nước tiếp tục đổi mới và hội nhập, việc chăm lo người có công, giáo dục truyền thống cách mạng và bồi đắp lòng yêu nước càng có ý nghĩa thiết thực đối với sự phát triển bền vững của dân tộc.

     Hơn bảy mươi chín năm đã trôi qua, nhưng ngọn lửa tri ân mà Chủ tịch Hồ Chí Minh thắp lên vẫn luôn được gìn giữ và lan tỏa. Mỗi việc làm nghĩa tình đối với thương binh, liệt sĩ và người có công hôm nay không chỉ là sự tri ân đối với quá khứ, mà còn là sự tiếp nối lời Bác dặn, góp phần bồi đắp bản sắc văn hóa, sức mạnh tinh thần và khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, hùng cường, giàu lòng nhân ái.

Chú thích:

[1]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 12, tr.401. [2]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 5, tr.49. [3]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 5, tr.204. [4]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 15, tr.616.

 

VƯƠNG NGA 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *