QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ TƯ TƯỞNG VÀ ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC TRƯỚC NĂM 1941

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là người có công lao đặc biệt to lớn trong việc tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của dân tộc Việt Nam. Trước năm 1941, trải qua hành trình hơn ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước ở nhiều quốc gia và châu lục, Nguyễn Ái Quốc đã từng bước chuẩn bị về tư tưởng, chính trị, tổ chức và đường lối cách mạng cho sự ra đời và phát triển của cách mạng Việt Nam. Quá trình ấy không chỉ thể hiện tầm vóc trí tuệ, bản lĩnh chính trị và năng lực sáng tạo của một nhà cách mạng thiên tài, mà còn phản ánh sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.

Bài viết này tác giả tập trung phân tích hành trình chuẩn bị tư tưởng và đường lối cách mạng của Nguyễn Ái Quốc trước năm 1941, làm rõ các giai đoạn phát triển tư duy lý luận, nhận thức cách mạng và những đóng góp có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam.

  1. Bối cảnh lịch sử và yêu cầu đặt ra đối với con đường cứu nước đầu thế kỷ XX

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Việt Nam bước vào một giai đoạn lịch sử đặc biệt khó khăn và đầy biến động. Sau khi hoàn thành cơ bản quá trình xâm lược, thực dân Pháp thiết lập bộ máy thống trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam, biến nước ta từ một quốc gia phong kiến độc lập thành thuộc địa nửa phong kiến. Chế độ cai trị hà khắc của thực dân Pháp kết hợp với sự mục nát, bất lực của triều đình phong kiến nhà Nguyễn, đã đẩy đất nước vào tình trạng khủng hoảng toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội. Mâu thuẫn cơ bản và gay gắt nhất trong xã hội Việt Nam lúc này là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và tay sai phản động.

Trước thực trạng mất nước, nhiều phong trào yêu nước chống Pháp đã bùng nổ mạnh mẽ, thể hiện tinh thần bất khuất và lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân ta. Tuy nhiên, các phong trào đấu tranh cuối thế kỷ XIX như phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế lần lượt thất bại. Sang đầu thế kỷ XX, các phong trào theo khuynh hướng dân chủ tư sản như Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, phong trào Duy Tân hay Việt Nam Quốc dân đảng tuy có bước tiến mới về tư duy nhưng vẫn không vượt qua được những hạn chế căn bản về đường lối, tổ chức và phương pháp đấu tranh. Thực tiễn đó cho thấy, con đường cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và tư sản đều không thể đưa dân tộc Việt Nam tới độc lập, tự do. Nguyễn Tất Thành đã nhận xét con đường cứu nước của các bậc tiền bối: “Cụ Phan Chu trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương… chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương. Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp … chẳng khác gì đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau. Cụ Hoàng Hoa Thám… còn nặng cốt cách phong kiến” [1].

Trong bối cảnh đó, lịch sử đặt ra yêu cầu bức thiết phải tìm kiếm một con đường cứu nước mới, khoa học hơn, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và điều kiện cụ thể của dân tộc Việt Nam. Con đường ấy không chỉ nhằm giành lại độc lập dân tộc mà còn phải giải phóng nhân dân lao động khỏi áp bức, bóc lột, đưa đất nước phát triển theo hướng tiến bộ.

2. Hành trình tìm đường cứu nước và bước chuyển biến tư tưởng (1911 – 1920) của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc

Sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, sớm chứng kiến cảnh nước mất, nhân dân đói khổ, nên từ rất sớm Nguyễn Tất Thành đã hình thành ý chí cứu nước, cứu dân. Tuy nhiên, khác với nhiều nhà yêu nước đương thời, Người không lựa chọn con đường cầu viện nước ngoài hay cải cách trong khuôn khổ chế độ thực dân. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, tại bến cảng Sài Gòn, trên con tàu Đô đốc Latouche-Tréville Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc, bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước với khát vọng: “Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi” [2]. Quyết định này thể hiện tư duy độc lập, sáng tạo và tầm nhìn vượt thời đại của Người thanh niên yêu nước 21 tuổi.

Từ 1911 – 1920, Nguyễn Tất Thành đã đi qua nhiều quốc gia và châu lục như Pháp, Anh, Hoa Kỳ, các nước châu Phi…, vừa lao động kiếm sống vừa trực tiếp quan sát đời sống xã hội ở các nước tư bản và thuộc địa. Qua thực tiễn gần mười năm bôn ba đó, Người nhận thức ngày càng rõ bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa thực dân. Nguyễn Tất Thành sớm nhận ra rằng, không chỉ nhân dân các nước thuộc địa bị áp bức, mà ngay cả giai cấp công nhân và người lao động ở chính quốc cũng chịu sự bóc lột nặng nề. Nhận thức này giúp Người vượt qua giới hạn của chủ nghĩa yêu nước thuần túy, từng bước tiếp cận vấn đề giải phóng dân tộc trong mối quan hệ mật thiết với vấn đề giai cấp và phong trào cách mạng thế giới.

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, phong trào cách mạng và dân chủ ở châu Âu phát triển mạnh mẽ. Tại Pháp, Nguyễn Tất Thành tích cực tham gia các hoạt động chính trị trong phong trào công nhân và phong trào xã hội chủ nghĩa. Năm 1919, lấy tên Nguyễn Ái Quốc, Người gửi tới Hội nghị Versailles bản “Yêu sách của nhân dân An Nam”, đòi các quyền tự do, dân chủ tối thiểu cho nhân dân Việt Nam. Mặc dù bản yêu sách không được các cường quốc chấp nhận, song sự kiện này đánh dấu bước trưởng thành quan trọng về tư duy chính trị của Nguyễn Ái Quốc, thể hiện lập trường đấu tranh công khai, chính nghĩa và phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại.

Thực tiễn thất bại của “Yêu sách của nhân dân An Nam” giúp Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận quan trọng: các thế lực tư bản đế quốc không bao giờ tự nguyện trao trả độc lập cho các dân tộc thuộc địa. Do đó, con đường giải phóng dân tộc không thể trông chờ vào sự ban phát hay cải lương, mà phải bằng con đường cách mạng triệt để. Đây là bước chuyển biến quan trọng trong nhận thức chính trị của Người.

Bước ngoặt quyết định trong tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc diễn ra vào năm 1920, khi Người đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I. Lênin đăng trên báo L’Humanité. Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ và tin tưởng biết bao” [3]. Lần đầu tiên, vấn đề giải phóng dân tộc thuộc địa được đặt ra một cách khoa học, triệt để và gắn bó hữu cơ với cách mạng vô sản thế giới. Từ đây, Nguyễn Ái Quốc đi đến kết luận có tính chất quyết định: chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức.

Tháng 12 năm 1920, tại Đại hội Tours của Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Sự kiện này đánh dấu bước chuyển biến căn bản từ lập trường yêu nước sang lập trường cộng sản, từ người yêu nước trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Đây là kết quả tất yếu của quá trình khảo nghiệm thực tiễn và tiếp thu lý luận một cách nghiêm túc, khoa học.

Có thể khẳng định rằng, giai đoạn 1911 – 1920 là thời kỳ hình thành thế giới quan và phương pháp luận cách mạng của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc. Qua hành trình tìm đường cứu nước đầy gian khổ, Người đã kết hợp chủ nghĩa yêu nước Việt Nam với chủ nghĩa Mác – Lênin, xác lập con đường cách mạng giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản. Đây chính là tiền đề tư tưởng và lý luận quyết định cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và cho toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX.

3. Tiếp thu và truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức (1921 – 1929)

Sau khi trở thành người cộng sản tại Đại hội Tours của Đảng Xã hội Pháp (12/1920), Nguyễn Ái Quốc bước vào giai đoạn hoạt động cách mạng sôi nổi trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Năm 1921, Người tham gia sáng lập Hội Liên hiệp Thuộc địa. Đây là một tổ chức chính trị nhằm đoàn kết các dân tộc thuộc địa đang sinh sống tại Pháp để đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Thông qua tổ chức này, Nguyễn Ái Quốc đã trực tiếp tuyên truyền, giác ngộ chính trị và kết nối phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa với phong trào vô sản ở chính quốc.

Một đóng góp đặc biệt quan trọng của Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn này là hoạt động báo chí cách mạng. Năm 1922, Người tham gia sáng lập và trực tiếp viết nhiều bài cho báo Le Paria (Người cùng khổ). Ngoài ra, Người còn viết cho các báo “Nhân đạo”, “Đời sống công nhân”… Trên diễn đàn này, Nguyễn Ái Quốc vạch trần bản chất bóc lột, phản động và phi nhân tính của chủ nghĩa thực dân, đồng thời khẳng định con đường đấu tranh giải phóng dân tộc phải gắn liền với cách mạng vô sản. Các bài viết của Người, thể hiện rõ lập trường mácxít, kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, góp phần quan trọng vào việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin trong phong trào cách mạng thuộc địa.

Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc sang Liên Xô – quê hương của Cách mạng Tháng Mười, là trung tâm của phong trào cách mạng thế giới. Tại đây, Người có điều kiện nghiên cứu một cách hệ thống và sâu sắc chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời trực tiếp tham gia các hoạt động của Quốc tế Cộng sản. Nguyễn Ái Quốc dự Đại hội Quốc tế Nông dân (10/1923), Đại hội V Quốc tế Cộng sản (1924), và nhiều hội nghị quan trọng khác. Qua đó, khẳng định vai trò chiến lược của cách mạng thuộc địa trong cách mạng vô sản thế giới. Trong các bài phát biểu và tham luận, Người nhấn mạnh rằng cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa có thể và cần phải phát triển chủ động, sáng tạo, không phụ thuộc một cách máy móc vào cách mạng ở chính quốc.

Thời gian hoạt động tại Liên Xô đã góp phần quan trọng hoàn thiện thế giới quan và phương pháp luận cách mạng của Nguyễn Ái Quốc. Người không tiếp thu lý luận Mác – Lênin một cách giáo điều mà luôn gắn việc học tập lý luận với việc suy nghĩ về con đường cụ thể của cách mạng Việt Nam. Đây là biểu hiện rõ nét của tư duy độc lập, sáng tạo, là một đặc điểm xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh sau này.

Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, vào 6/1925, Người sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đây là tổ chức tiền thân có vai trò quyết định trong việc chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thông qua Hội, Nguyễn Ái Quốc mở nhiều lớp huấn luyện chính trị, đào tạo đội ngũ cán bộ nòng cốt, trang bị cho họ những kiến thức cơ bản về chủ nghĩa Mác – Lênin, về đường lối cách mạng giải phóng dân tộc và phương pháp tổ chức quần chúng.

Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại Quảng Châu trong những năm 1925 – 1927, sau này được tập hợp thành tác phẩm Đường Kách mệnh (1927). Đây là tác phẩm chứa đựng nội dung có tính chất khai phá, mở đường, là một trong những tác phẩm nổi bật nhất về lý luận cách mạng, nhằm trang bị những kiến thức cơ bản về con đường cách mạng Việt Nam, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức trước khi Đảng ra đời. Nội dung tác phẩm đề cập những vấn đề cơ bản của cách mạng nước ta: mục tiêu của cách mạng, lực lượng tham gia, giai cấp lãnh đạo, phương pháp, phương châm tiến hành cách mạng. Trong đó, tiêu biểu và cốt lõi nhất là vấn đề xây dựng lực lượng cách mạng để tiến hành giải phóng dân tộc. Đây là vấn đề mà từ trước đến nay chưa có nhà yêu nước nào chỉ ra được hoặc nếu có thì cũng chỉ dừng ở mức độ đơn lẻ, chưa bao quát toàn diện và sâu sắc.

Đường Kếch mệnh là một văn kiện lý luận có giá trị đặc biệt quan trọng, được xem như cương lĩnh đầu tiên của cách mạng Việt Nam. Trong tác phẩm này, Nguyễn Ái Quốc khẳng định rõ cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân; muốn cách mạng thành công phải có Đảng lãnh đạo: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt,… nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” [4]. Những luận điểm đó của Nguyễn Ái Quốc thể hiện sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Bên cạnh việc chuẩn bị về tư tưởng, Nguyễn Ái Quốc đặc biệt chú trọng xây dựng tổ chức cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, phong trào công nhân và phong trào yêu nước trong nước có bước phát triển mới cả về chất và lượng. Chủ nghĩa Mác – Lênin từng bước được truyền bá sâu rộng, tạo cơ sở tư tưởng cho sự hình thành các tổ chức cộng sản vào nửa cuối năm 1929. Đến cuối năm 1929, phong trào cộng sản xuất hiện xu hướng phân tán, song thực tiễn đó càng khẳng định yêu cầu bức thiết phải thống nhất lực lượng dưới một chính đảng duy nhất. Điều này đã được Nguyễn Ái Quốc nhận thức từ rất sớm.

Có thể khẳng định rằng, trong giai đoạn 1921 – 1929, Nguyễn Ái Quốc đã hoàn thành xuất sắc vai trò người truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam và người chuẩn bị những điều kiện quyết định cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quá trình tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin của Người không chỉ giải quyết thành công cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước đầu thế kỷ XX, mà còn đặt nền tảng tư tưởng, lý luận vững chắc cho toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam sau này. Đây là đóng góp mang tầm vóc lịch sử và giá trị lý luận bền vững của Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.

4. Chuẩn bị và hoàn thiện đường lối cách mạng Việt Nam (1930 – 1941)

Trước tình hình các tổ chức cộng sản tranh chấp ảnh hưởng trong quần chúng, bài xích lẫn nhau và mỗi đảng viên đều muốn tự đứng ra thống nhất các tổ chức cộng sản vào cuối năm 1929. Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đến lúc này không còn cơ sở tồn tại, bị tan rã. Nhận được tin đó, Nguyễn Ái Quốc từ Xiêm (Thái Lan) đến Trung Quốc vào ngày 23-12-1929. Tại bán đảo Cửu Long, Hương Cảng, Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Về thời gian tiến hành Hội nghị, Bản Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 18-2-1930 của Nguyễn Ái Quốc cho biết: “Tôi đã cố gắng đi lần thứ ba khi một đồng chí từ Hồng Kông tới Xiêm và tin cho tôi biết tình hình Hội An Nam Thanh niên Cách mạng bị tan rã; những người cộng sản chia thành nhiều phái… Lập tức tôi đi Trung Quốc, tới đó vào ngày 23-12… Chúng tôi họp vào ngày 6-1… Các đại biểu trở về An Nam vào ngày 8-2” [5].

Hội nghị đã thảo luận và thông qua các văn kiện quan trọng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp soạn thảo, gồm Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của ĐảngĐiều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó, Chánh cương vắn tắtSách lược vắn tắt giữ vai trò trung tâm. Các văn kiện này xác định rõ mục tiêu, phương hướng phát triển, chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam, nhấn mạnh vai trò quyết định của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân. Với nội dung và giá trị lý luận, thực tiễn đó, Chánh cương vắn tắtSách lược vắn tắt được khẳng định là Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cương lĩnh xác định rõ nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc và phong kiến, làm cho nước Việt Nam được độc lập, đồng thời tiến tới chủ nghĩa xã hội. Điểm nổi bật trong Cương lĩnh là việc đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, coi đó là vấn đề sống còn của cách mạng Việt Nam trong bối cảnh nước mất, dân nô lệ. Quan điểm này thể hiện sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, phù hợp với đặc điểm xã hội thuộc địa nửa phong kiến ở Việt Nam.

Đường lối cách mạng do Nguyễn Ái Quốc khởi xướng đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn cao trào cách mạng 1930 – 1931, đỉnh cao là phong trào Xô viết Nghệ – Tĩnh. Mặc dù phong trào bị thực dân Pháp đàn áp khốc liệt, song nó đã chứng minh sức mạnh to lớn của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng và tính đúng đắn cơ bản của đường lối giải phóng dân tộc gắn với cách mạng ruộng đất. Đánh giá về ý nghĩa và ảnh hưởng của Cao trào cách mạng Xô viết Nghệ – Tĩnh 1930 – 1931, trong Lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Tuy đế quốc Pháp đã dập tắt phong trào đó trong một biển máu, nhưng Xô viết Nghệ – Tĩnh đã chứng tỏ tinh thần oanh liệt và năng lực cách mạng của nhân dân lao động Việt Nam. Phong trào tuy thất bại nhưng nó rèn luyện lực lượng cho cuộc Cách mạng Tháng Tám thắng lợi sau này” [6]. Thực tiễn đấu tranh cũng đặt ra yêu cầu phải điều chỉnh sách lược cách mạng cho phù hợp với tương quan lực lượng trong từng thời kỳ.

Từ giữa những năm 1930, tình hình thế giới có nhiều biến động lớn, đặc biệt là sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít và nguy cơ bùng nổ chiến tranh thế giới. Trong bối cảnh đó, Nguyễn Ái Quốc ngày càng nhấn mạnh nhiệm vụ đoàn kết dân tộc, coi đây là điều kiện quyết định để tập hợp lực lượng chống kẻ thù chung. Người chủ trương điều chỉnh sách lược cách mạng, xác định đúng nhiệm vụ trước mắt và lâu dài, kết hợp linh hoạt giữa đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp, giữa mục tiêu chiến lược và sách lược cụ thể.

Trong những năm tiếp theo (1931 – 1933), mặc dù bị bắt giam và hoạt động trong điều kiện hết sức khó khăn, Nguyễn Ái Quốc vẫn kiên trì theo dõi, chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam thông qua Quốc tế Cộng sản. Người đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc xuất phát từ thực tiễn, tránh giáo điều, máy móc trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin. Quan điểm này thể hiện rõ tư duy độc lập và sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc trong việc xác định con đường phát triển của cách mạng Việt Nam.

Bước hoàn thiện mang tính quyết định của đường lối cách mạng Việt Nam được thể hiện rõ khi Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc ngày 28-1-1941. Tháng 5-1941, Nguyễn Ái Quốc trực tiếp triệu tập Hội nghị Trung ương VIII, nhằm chuẩn bị mọi mặt về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xây dựng các đoàn thể cứu quốc và thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh). Hội nghị phân tích tình hình và chỉ rõ: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được” [7] Hội nghị đã hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, xác định nhiệm vụ trung tâm, cấp bách là giành độc lập cho dân tộc, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất để tập trung lực lượng chống đế quốc xâm lược. Đây là sự phát triển sáng tạo của đường lối cách mạng Việt Nam, phù hợp với yêu cầu lịch sử cụ thể lúc bấy giờ.

Việc thành lập Mặt trận Việt Minh là một quyết định có ý nghĩa chiến lược của Hội nghị Trung ương 8, thể hiện rõ tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Nguyễn Ái Quốc, nhằm tập hợp mọi giai cấp, tầng lớp, đảng phái và cá nhân yêu nước vào mặt trận thống nhất chống đế quốc, giành độc lập dân tộc. Đây là bước chuyển quan trọng trong việc biến đường lối cách mạng thành sức mạnh hiện thực của quần chúng nhân dân.

Có thể khẳng định rằng, trong giai đoạn 1930 – 1941, Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị và hoàn thiện một cách cơ bản đường lối cách mạng Việt Nam. Từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đến quyết định chiến lược tại Hội nghị Trung ương 8, tư duy cách mạng của Người luôn nhất quán ở mục tiêu độc lập dân tộc, đồng thời linh hoạt, sáng tạo trong phương pháp thực hiện. Đường lối đó đã trực tiếp dẫn dắt cách mạng Việt Nam tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và trở thành nền tảng tư tưởng, chính trị bền vững cho toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam sau này.

5. Ý nghĩa lịch sử và giá trị lý luận của quá trình chuẩn bị tư tưởng, đường lối cách mạng

Quá trình chuẩn bị tư tưởng và đường lối cách mạng của Nguyễn Ái Quốc trước năm 1941 có ý nghĩa lịch sử to lớn và giá trị lý luận sâu sắc.

Về ý nghĩa lịch sử: Trước hết, quá trình chuẩn bị tư tưởng và đường lối cách mạng của Nguyễn Ái Quốc đã chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về đường lối cứu nước ở Việt Nam đầu thế kỷ XX. Thực tiễn lịch sử cho thấy, các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản tuy thể hiện tinh thần yêu nước sâu sắc nhưng đều thất bại do thiếu một hệ tư tưởng khoa học và một lực lượng lãnh đạo tiên tiến. Trên cơ sở tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã xác lập con đường cách mạng giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản, phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Con đường đó đã mở ra một thời kỳ phát triển hoàn toàn mới cho phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam.

Thứ hai, quá trình chuẩn bị tư tưởng và đường lối cách mạng của Nguyễn Ái Quốc là tiền đề trực tiếp dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930. Từ việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, đào tạo cán bộ, xây dựng tổ chức tiền thân đến việc soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị đầy đủ những điều kiện cần thiết để hình thành một chính đảng cách mạng kiểu mới ở Việt Nam. Cương lĩnh chính trị đầu tiên năm 1930, với việc đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu đã chứng minh tính đúng đắn, sáng tạo của tư duy đường lối do Nguyễn Ái Quốc khởi xướng.

Thứ ba, quá trình này có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đường lối cách mạng giải phóng dân tộc được hoàn chỉnh tại Hội nghị Trung ương 8 (5-1941), cùng với tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc và phương pháp cách mạng linh hoạt đã tạo cơ sở chính trị, tư tưởng vững chắc để Đảng và nhân dân Việt Nam chớp thời cơ, giành chính quyền trong phạm vi cả nước.

Về giá trị lý luận: Trước hết, đó là sự phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Nguyễn Ái Quốc khẳng định rằng, ở các nước thuộc địa, nhiệm vụ giải phóng dân tộc có thể và cần phải đặt lên hàng đầu, đồng thời gắn bó hữu cơ với mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Quan điểm này đã góp phần bổ sung, làm phong phú thêm lý luận cách mạng vô sản trong điều kiện lịch sử mới.

Thứ hai, tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc thể hiện rõ phương pháp luận cách mạng khoa học: luôn xuất phát từ thực tiễn, chống giáo điều, máy móc, kết hợp nhuần nhuyễn giữa mục tiêu chiến lược và sách lược linh hoạt. Việc tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, tập trung cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc trong giai đoạn này là minh chứng tiêu biểu cho tư duy biện chứng và sáng tạo đó của Nguyễn Ái Quốc.

Cuối cùng, giá trị lý luận của quá trình này còn thể hiện ở tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là một nội dung xuyên suốt và nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Việc xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất không chỉ là giải pháp chiến lược trong cách mạng giải phóng dân tộc, mà còn trở thành bài học có giá trị lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay.

Kết luận

Có thể khẳng định rằng, trước năm 1941, Nguyễn Ái Quốc đã thực hiện quá trình chuẩn bị tư tưởng và đường lối cách mạng mang tính khoa học, sáng tạo và nhất quán. Trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và từ thực tiễn Việt Nam, Người hình thành hệ tư tưởng giải phóng dân tộc, xác lập con đường cách mạng vô sản phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể. Quá trình này được thể hiện qua việc truyền bá lý luận, xây dựng tổ chức chính trị tiên phong và hoàn thiện đường lối chiến lược tại Hội nghị Trung ương 8 (1941). Những chuẩn bị đó không chỉ bảo đảm thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mà còn đặt nền tảng lý luận bền vững cho sự phát triển lâu dài của cách mạng Việt Nam, tiếp tục có giá trị định hướng cả về khoa học và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay./.

 

Chú giải:

[1]. Trần Dân Tiên – Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. Nxb. Thanh Niên, 2012, tr.14. [2]. Hồ Chí Minh: Tiểu sử, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012, tr.21. [3]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 12, tr.562. [4]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 2, tr.289. [5]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 3, tr.13. [6]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 12, tr. 407-408. [7]. Văn kiện Đảng: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2000, t.7, tr.113.

 

Nguyễn Bảo Tuấn 

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *